news
Quy định đăng kiểm, đăng ký và an toàn tàu cá

Quy định đăng kiểm, đăng ký và an toàn tàu cá

Thứ năm, 17/9/2026, 11:58 (GMT+7)
logo Văn bản hợp nhất số 81/2026/VBHN-TT-BNNMT hệ thống các quy định về đăng kiểm viên, an toàn kỹ thuật, đăng ký, nhập khẩu tàu cá, đánh dấu tàu và phân loại, công bố mở, đóng cảng cá.

Ngày 28/8/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác thực Văn bản hợp nhất số 81/2026/VBHN-TT-BNNMT quy định về đăng kiểm viên tàu cá; bảo đảm an toàn kỹ thuật; đăng ký, xóa đăng ký tàu cá, tàu công vụ thủy sản, tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản; treo cờ, đánh dấu tàu; nhập khẩu tàu cá; phân loại và công bố mở, đóng cảng cá. 

Văn bản hợp nhất được hình thành từ Thông tư số 02/2026/TT-BNNMT ngày 1/1/2026 và các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT ngày 4/8/2026. Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT có hiệu lực từ ngày 19/9/2026.

Văn bản gồm 9 chương, 40 điều và các phụ lục, áp dụng đối với cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến tàu cá, tàu công vụ thủy sản, tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản và cảng cá.

anh-14_1789371554.png
Văn bản hợp nhất số 81/2026/VBHN-TT-BNNMT hệ thống các quy định về đăng kiểm, đăng ký và bảo đảm an toàn kỹ thuật tàu cá. Ảnh minh họa 

Lưu ý, Văn bản hợp nhất số 81/2026/VBHN-TT-BNNMT không phải là một thông tư mới và không làm thay đổi hiệu lực của các văn bản được hợp nhất. Văn bản giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân thuận lợi tra cứu, áp dụng các quy định đã được cập nhật.

Tàu có chiều dài từ 12m trở lên phải đăng kiểm

Theo văn bản hợp nhất, tàu cá và tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản có chiều dài lớn nhất từ 12m trở lên, cùng tàu công vụ thủy sản, phải thực hiện đăng kiểm. Tàu cá và tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản có chiều dài lớn nhất dưới 12m phải lắp đặt trang thiết bị an toàn khi hoạt động theo danh mục quy định tại phụ lục của Thông tư.

Hoạt động đăng kiểm bao gồm thẩm định hồ sơ thiết kế khi đóng mới, cải hoán, sửa chữa phục hồi; giám sát an toàn kỹ thuật; kiểm tra máy móc, trang thiết bị lắp đặt trên tàu; tham gia giám định kỹ thuật và xác định nguyên nhân tai nạn, sự cố khi có yêu cầu.

Tàu cá, tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản từ 12m trở lên và tàu công vụ thủy sản, trước khi đóng mới hoặc cải hoán, phải có hồ sơ thiết kế kỹ thuật được thẩm định. Trường hợp tàu vỏ gỗ đóng mới theo mẫu truyền thống phải có hồ sơ thiết kế mẫu đã được cơ sở đăng kiểm tàu cá sao duyệt. Thời hạn thẩm định là 20 ngày đối với hồ sơ thiết kế đóng mới, lần đầu; 10 ngày làm việc đối với hồ sơ thiết kế cải hoán, sửa chữa phục hồi, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Sau khi hoàn thành kiểm tra và đạt yêu cầu, trong thời hạn 3 ngày làm việc, cơ sở đăng kiểm cấp biên bản kiểm tra kỹ thuật, Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và sổ đăng kiểm đối với trường hợp thuộc diện cấp sổ.

Chủ tàu chỉ được đưa tàu đi hoạt động sau khi đã được cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và phải hoạt động trong vùng biển được phép. Chủ tàu có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra tình trạng kỹ thuật, duy trì an toàn của tàu giữa hai lần kiểm tra.

Đăng kiểm viên tàu cá được chia thành 3 hạng

Đăng kiểm viên tàu cá được phân thành ba hạng: Hạng III, hạng II và hạng I. Tiêu chuẩn của từng hạng được xác định theo trình độ đào tạo, thời gian giữ hạng và chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ.

Đăng kiểm viên hạng III phải tốt nghiệp cao đẳng trở lên thuộc một trong các chuyên ngành kỹ thuật liên quan đến tàu cá, tàu biển, điện, nhiệt lạnh, chế tạo máy hoặc trang thiết bị lắp đặt trên tàu; đồng thời có chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ hạng III.

Đăng kiểm viên hạng II phải có thời gian giữ hạng III liên tục tối thiểu 36 tháng và có chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ hạng II. Đăng kiểm viên hạng I phải tốt nghiệp đại học trở lên, giữ hạng II liên tục tối thiểu 36 tháng và có chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ hạng I.

Thẻ đăng kiểm viên có thời hạn 36 tháng. Trường hợp thẻ hết hạn từ 24 tháng trở lên, để được cấp lại, đăng kiểm viên phải tham gia chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ và được cấp chứng nhận bồi dưỡng. Đăng kiểm viên có thể bị thu hồi thẻ, dấu kỹ thuật nếu làm giả hồ sơ; lập khống biên bản kiểm tra, cố ý làm sai lệch kết quả; không tuân thủ quy trình kiểm tra, tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật.

dang-kiem-tau-ca_1789371681.jpg
Ngư dân kiểm tra, chuẩn bị trang thiết bị trên tàu cá trước chuyến biển, góp phần bảo đảm an toàn trong quá trình khai thác thủy sản. Ảnh minh họa

Cấp đăng ký tàu trong 3 ngày làm việc

Tàu cá, tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản có chiều dài lớn nhất từ 6m trở lên và tàu công vụ thủy sản phải được đăng ký trước khi đưa vào hoạt động. UBND cấp xã thống kê tàu cá có chiều dài lớn nhất dưới 6 m.

Cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản cấp tỉnh thực hiện đăng ký tàu cá, tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản trên địa bàn. Cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp đăng ký tàu công vụ thủy sản.

Trong cùng một thời gian, mỗi tàu chỉ được đăng ký tại một cơ quan và được cấp một Giấy chứng nhận đăng ký. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền thực hiện đăng ký, cấp Giấy chứng nhận và cài đặt Sổ danh bạ thuyền viên điện tử trên thiết bị do chủ tàu cung cấp. Trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Thời hạn cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký là 2 ngày làm việc. Giấy chứng nhận cấp lại phải giữ nguyên số đăng ký đã được cấp. Tàu được đăng ký tạm thời trong trường hợp chưa có biên lai nộp lệ phí trước bạ; tàu đóng mới cần di chuyển về nơi đăng ký chính thức; tàu nhập khẩu hoặc thuê tàu trần từ nước ngoài về cảng đầu tiên của Việt Nam. Giấy chứng nhận đăng ký tạm thời có giá trị tối đa 60 ngày.

Màu sắc nhận diện tàu cá theo chiều dài

Tàu cá, tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản đã đăng ký khi hoạt động trên vùng biển Việt Nam phải treo Quốc kỳ ở đỉnh cột phía lái; nếu không có cột phía lái thì treo ở đỉnh cột chính. Tàu khai thác thủy sản từ 6 m đến dưới 12 m phải sơn toàn bộ cabin màu xanh. Tàu từ 12 m đến dưới 15 m sơn cabin màu vàng; tàu từ 15 m trở lên sơn cabin màu ghi sáng.

Nếu tàu không có cabin, màu nhận diện được sơn trên toàn bộ phần mạn khô. Đối với tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản, cabin hoặc phần mạn khô được sơn một nửa màu xanh phía mũi và một nửa màu vàng phía lái.

Số đăng ký phải được thể hiện rõ ràng ở hai bên mạn phía mũi tàu. Màu chữ, số phải tương phản với nền; chiều cao chữ và số không nhỏ hơn 200 mm, bề dày nét không nhỏ hơn 30 mm, trừ trường hợp tàu quá nhỏ nhưng vẫn phải bảo đảm rõ ràng, dễ nhìn.

Phân loại cảng cá theo năng lực tiếp nhận

Cảng cá được phân thành ba loại. Cảng cá loại I phải có khả năng tiếp nhận tàu từ 24 m trở lên và có lượng thủy sản qua cảng từ 25.000 tấn/năm; đối với cảng tại đảo là từ 3.000 tấn/năm.

Cảng cá loại II phải có khả năng tiếp nhận tàu từ 15 m trở lên, lượng thủy sản qua cảng từ 15.000 tấn/năm; đối với cảng tại đảo là từ 1.000 tấn/năm. Cảng cá loại III phải có khả năng tiếp nhận tàu từ 6 m trở lên. Các loại cảng đều phải đáp ứng yêu cầu về an toàn kỹ thuật, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và phòng, chống cháy, nổ.

Theo nội dung được sửa đổi, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền công bố mở, đóng cảng cá loại I và loại II; Chủ tịch UBND cấp xã công bố mở, đóng cảng cá loại III.

Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan tiếp nhận xem xét, khảo sát thực tế nếu cần thiết và trình người có thẩm quyền quyết định. Trong vòng 2 ngày kể từ ngày ban hành quyết định công bố mở cảng, cơ quan có thẩm quyền phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cảng cá được chỉ định xác nhận nguồn gốc nguyên liệu thủy sản khai thác phải có ít nhất hai người có chuyên môn về thủy sản và hệ thống máy tính có khả năng truy cập cơ sở dữ liệu thủy sản.

Sổ danh bạ thuyền viên giấy sử dụng đến hết 30/9/2026

Theo điều khoản chuyển tiếp, văn bản, giấy phép, giấy chứng nhận đã được cấp trước ngày Thông tư có hiệu lực và chưa hết thời hạn tiếp tục được sử dụng đến khi hết thời hạn ghi trên giấy tờ.

Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá được cấp trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh tiếp tục được sử dụng. Việc cấp giấy chứng nhận đăng ký mới được thực hiện khi chủ tàu đăng ký lần đầu, cải hoán, mua bán, tặng cho hoặc có đề nghị. Đáng chú ý, quy định bổ sung tại Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT xác định Sổ danh bạ thuyền viên bản giấy được thực hiện đến hết ngày 30/9/2026.

 

Hồng Minh