Triển khai hiệu quả Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học

Triển khai hiệu quả Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học

Thứ tư, 7/10/2026, 10:34 (GMT+7)
logo Chính phủ vừa phê duyệt Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học (CNSH) ngành Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) nhằm xác lập hướng đi mới trong ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất và bảo vệ môi trường. Từ định hướng đó, tỉnh Ninh Bình tiên phong cụ thể hóa các mục tiêu phát triển về mô hình, chuỗi sản xuất và sản phẩm CNSH có sức cạnh tranh cao.
ung-dung-cong-nghe-sinh-hoc-vao-phat-trien-nong-nghiep-ben-vung_1790776274.webp
Tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học vào phát triển nông nghiệp bền vững. Ảnh minh họa

Động lực tăng trưởng công nghệ sinh học quốc gia

Trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, NN&MT đang đứng trước yêu cầu về nâng cao năng suất, sử dụng tài nguyên hiệu quả và gia tăng giá trị từ những nguồn lực sẵn có. Trong bối cảnh đó, CNSH có vai trò đặc biệt quan trọng do khả năng kết nối nghiên cứu khoa học với sản xuất, chế biến và BVMT.

Vừa qua, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1466/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành NN&MT (Kế hoạch) tạo nền tảng quan trọng để dẫn dắt đổi mới mô hình tăng trưởng của ngành dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Kế hoạch là bước chuyển quan trọng từ tư duy ứng dụng công nghệ sinh học đơn lẻ sang phát triển một ngành kinh tế - kỹ thuật có quy mô công nghiệp. Trọng tâm không chỉ là nghiên cứu, tạo ra sản phẩm mà còn phải làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp và phát triển thị trường. Đây là hướng tiếp cận có ý nghĩa lâu dài đối với năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam trong lĩnh vực NN&MT.

Theo Kế hoạch, đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ sinh học chiến lược và công nghệ chỉnh sửa gen; ứng dụng để tạo ra sản phẩm quy mô công nghiệp, hình thành ngành kinh tế - kỹ thuật cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu các sản phẩm chất lượng, an toàn.

Mục tiêu này đặt ra yêu cầu phát triển đồng thời ba năng lực: Nghiên cứu và làm chủ công nghệ; tổ chức sản xuất ở quy mô công nghiệp; thương mại hóa sản phẩm; hình thành năng lực cạnh tranh bền vững. Kế hoạch phấn đấu, tăng 70%; sản phẩm công nghệ sinh học được tạo ra để thay thế tối thiểu 60% sản phẩm nhập khẩu so với các sản phẩm cùng loại; đóng góp vào 15% giá trị gia tăng của ngành công nghiệp sinh học.

Định hướng này còn đặt chuỗi giá trị quan trọng: Phát triển kinh tế từ nguồn lực sinh học phải gắn với sử dụng có trách nhiệm nền tảng sinh thái, bảo đảm nguồn nguyên liệu và sinh kế lâu dài. Vì vậy, phát triển CNSH cần được đặt trong tổng thể mục tiêu nông nghiệp xanh, tuần hoàn và bền vững.

Quyết định 1466/QĐ-TTg cũng xác định rõ 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, tập trung vào: Phát triển khoa học, công nghệ; xây dựng tiềm lực và ngành CNSH; hoàn thiện cơ chế, chính sách; hợp tác quốc tế; truyền thông nâng cao nhận thức.

Trong đó, phát triển công nghệ phải hướng trực tiếp vào những vấn đề của sản xuất. Với trồng trọt và lâm nghiệp, trọng tâm là ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại trong chọn tạo giống, phát triển chế phẩm sinh học thế hệ mới, KIT chẩn đoán, giám định và quản lý sinh vật hại cây trồng; đánh giá sức khỏe đất, nước tưới và môi trường phục vụ nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ.

Trong chăn nuôi, thủy sản và thú y, hướng tới làm chủ công nghệ gen thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen, phát triển giống có năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu tốt; đồng thời, sản xuất vắc-xin, chế phẩm sinh học, KIT phát hiện nhanh tác nhân gây bệnh, kiểm soát dư lượng chất cấm và kháng thuốc. Đặc biệt, việc phát triển các giải pháp sinh học trong quản lý dịch bệnh, dinh dưỡng và môi trường góp phần mở rộng phương thức sản xuất dựa trên tri thức, giảm sự phụ thuộc vào các đầu vào truyền thống.

Hiện thực hóa chuỗi giá trị vì công nghệ sinh học bền vững

Quyết định số 1466/QĐ-TTg nhấn mạnh phát triển doanh nghiệp CNSH ở quy mô công nghiệp, tập trung vào các sản phẩm chủ lực như: Giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản; phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh; thuốc bảo vệ thực vật sinh học; chế phẩm xử lý môi trường; thức ăn chăn nuôi; sản phẩm sinh học phục vụ bảo quản, chế biến và phòng, chống dịch bệnh. Đây là những vấn đề thiết yếu, gắn liền với chuỗi sản xuất NN&MT tại các địa phương.

Việc cụ thể hóa định hướng phát triển CNSH trở thành động lực cho các địa phương thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, sinh thái, tuần hoàn và có giá trị gia tăng cao; trong đó, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất được xác định là những chủ thể trọng tâm trong ứng dụng công nghệ.

Tại tỉnh Ninh Bình, ngày 22/9/2026, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 324/KH-UBND về phát triển CNSH ngành NN&MT giai đoạn 2026 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, tỉnh Ninh Bình đã đặt chỉ tiêu phát triển gắn với các mô hình sản xuất, như: Đến năm 2035, phấn đấu xây dựng và nhân rộng từ 30 - 40 mô hình, chuỗi sản xuất ứng dụng công nghệ sinh học mang lại hiệu quả thiết thực; có khoảng 15 - 20 doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất ứng dụng công nghệ tiên tiến vào bảo quản, chế biến hoặc chế biến sâu nông sản. Đồng thời, hướng tới hình thành 15 - 20 sản phẩm mới hoặc sản phẩm được nâng cấp dựa trên nền tảng công nghệ sinh học.

ninh-binh-dat-muc-tieu-ohats-trien-cong-nghe-sinh-hoc_1790776509.jpg
Ninh Bình ưu tiên phát triển công nghệ sinh học. Ảnh minh họa

Trong lĩnh vực môi trường, tỉnh Ninh Bình đặt mục tiêu hỗ trợ trực tiếp 15 - 20 cơ sở thuộc vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa áp dụng các giải pháp sinh học để xử lý phụ phẩm, chất thải. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp canh tác theo hướng hữu cơ, hữu cơ sinh thái và sử dụng đầu vào sinh học được kỳ vọng đạt từ 5% trở lên.

Đây là những nội dung gắn trực tiếp với yêu cầu phát triển nông nghiệp tuần hoàn, trong đó phụ phẩm và chất thải không chỉ được nhìn nhận như vấn đề cần xử lý mà còn là nguồn lực có thể khai thác thông qua các giải pháp công nghệ phù hợp. Việc ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý môi trường, sử dụng phân bón vi sinh và thuốc bảo vệ thực vật sinh học cũng góp phần mở rộng khả năng sử dụng các đầu vào sinh học trong sản xuất nông nghiệp.

Bên cạnh đó, tỉnh Ninh Bình xác định phát triển nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ cần quan tâm. Theo kế hoạch, 100% cán bộ chuyên môn trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ sinh học được đào tạo, cập nhật kiến thức thường xuyên. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, bảo đảm đội ngũ trực tiếp tham gia quản lý và ứng dụng công nghệ có khả năng tiếp cận những tiến bộ mới.

Đến năm 2045, tỉnh định hướng làm chủ các CNSH mới, hình thành chuỗi liên kết đồng bộ từ nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất đến thương mại hóa sản phẩm. Trong đó, các giải pháp được tập trung vào chọn tạo, cải tiến giống cây trồng chủ lực có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu; phát triển phân bón vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học; ứng dụng KIT kiểm định giống và phát hiện nhanh dịch bệnh trong chăn nuôi, thủy sản; tăng cường sử dụng công nghệ enzym, vi sinh vật trong dinh dưỡng và xử lý môi trường.

Trong lĩnh vực chế biến sau thu hoạch, kế hoạch khuyến khích ứng dụng màng bao sinh học và công nghệ lên men trong sản xuất một số sản phẩm thực phẩm như sữa chua, phô mai, bia, rượu, tương, nước mắm... Cùng với đó là định hướng phát triển các mô hình đào tạo từ phổ thông đến đại học, trong đó có mô hình liên kết với Nhật Bản đào tạo hệ Trung cấp nông nghiệp chất lượng cao.

Về nguồn lực đầu tư, UBND tỉnh định hướng hoàn thiện các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng nhằm thu hút nguồn lực từ doanh nghiệp. Công tác truyền thông, khuyến nông, khuyến công và hợp tác với các viện, trường đại học cũng được xác định là những giải pháp cần đẩy mạnh. Sở NN&MT được giao làm cơ quan đầu mối, chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức thực hiện kế hoạch.

Từ định hướng của Chính phủ đến kế hoạch của tỉnh Ninh Bình cho thấy, điểm chung chính sách đều đặt trọng tâm vào việc đưa CNSH vào thực tiễn sản xuất, đồng thời phát triển doanh nghiệp và thị trường sản phẩm. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa các mục tiêu còn phụ thuộc vào thực tế địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện, khả năng huy động nguồn lực, năng lực tiếp nhận công nghệ và mức độ liên kết giữa các chủ thể tham gia. Đặc biệt, khả năng nhân rộng mô hình, chất lượng sản phẩm và sự tham gia thực chất của doanh nghiệp, hợp tác xã, người sản xuất vào chuỗi giá trị công nghệ sinh học bền vững.

Nguyên Khôi