news
Xuất bản: Thứ bảy, 18/4/2026, 04:34 (GMT+7)

back_1776218941.jpg

sapo_1776218967.jpg

PV: Thưa ông, với góc nhìn của một chuyên gia nông nghiệp, ông đánh giá như thế nào về nền nông nghiệp Cuba hiện nay?

TS. Nguyễn Ngọc Quất: Thực tế hiện nay, nông nghiệp Cuba đang gặp khá nhiều khó khăn. Tuy nhiên, nếu nhìn lại lịch sử, có thể thấy nền nông nghiệp của họ từng có giai đoạn phát triển rất mạnh, đặc biệt là vào trước những năm 1990 với cây mía là ngành chủ lực. Khi đó, Cuba nhận được sự hỗ trợ lớn từ các nước trong khối xã hội chủ nghĩa nên sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối rực rỡ.

Tuy nhiên, sau khi bối cảnh quốc tế thay đổi, cùng với tác động của lệnh cấm vận kéo dài, nền nông nghiệp Cuba bắt đầu suy giảm. Sản xuất mía – vốn là thế mạnh – cũng giảm dần theo thời gian. Để thích ứng với điều kiện khó khăn, Cuba áp dụng cơ chế sản xuất mang tính bao cấp, tự cung tự cấp. Nhưng chính cơ chế này lại chưa phát huy được tính chủ động và vai trò của kinh tế cá thể trong sản xuất nông nghiệp, dẫn đến hiệu quả chung còn thấp.

Một thực tế dễ nhận thấy là nhiều hoạt động sản xuất vẫn mang tính hình thức, chưa thực sự gắn với hiệu quả kinh tế. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và chất lượng nông sản. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn đó, Cuba lại có những lợi thế mà ít quốc gia vùng Caribe nào có được.

Đó là nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào với diện tích đất nông nghiệp rộng lớn, dân số ít hơn Việt Nam nhưng diện tích canh tác lại lớn hơn. Đặc biệt, nhiều vùng có đất bazan màu mỡ, rất phù hợp với các loại cây trồng như lạc và cây họ đậu. Đây chính là điều kiện quan trọng để triển khai các dự án hợp tác nông nghiệp với Việt Nam.

Trong thời gian qua, Việt Nam đã hỗ trợ Cuba thông qua nhiều dự án thiết thực. Ví dụ như dự án trồng lúa đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực trong những thời điểm khó khăn, hay dự án sản xuất ngô đang được mở rộng và phát triển khá mạnh. Những kết quả này cho thấy tiềm năng hợp tác giữa hai nước là rất lớn nếu được triển khai đúng hướng.

z7726690185033_3538f2ee4adc35f0286211ec094037c8_1776219105.jpg

Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường trao đổi với TS. Nguyễn Ngọc Quất, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ (Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm).

PV: Việt Nam đã ký kết nhiều nghị định thư hợp tác trong nông nghiệp với Cuba. Riêng với lĩnh vực lạc và cây họ đậu, ông có thể chia sẻ cụ thể hơn về kết quả đã triển khai?

TS. Nguyễn Ngọc Quất: Dự án hợp tác về cây họ đậu giữa Việt Nam và Cuba được triển khai từ tháng 4/2022 và kết thúc vào tháng 4/2025. Đây là một trong những dự án được đánh giá rất cao, không chỉ ở góc độ chuyên môn mà còn về hiệu quả hợp tác giữa hai quốc gia.

Trong khuôn khổ dự án, chúng tôi đã chuyển giao sang Cuba khoảng 20 mẫu giống lạc và 20 mẫu giống đậu Cove.

Chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với phía Cuba, đặc biệt là các viện nghiên cứu nông nghiệp của bạn như Viện Khoa học Nông nghiệp Quốc gia Cuba (INCA), để tiến hành triển khai dự án và đánh giá khảo nghiệm các mẫu giống trong điều kiện thực tế ở Cuba. Sau quá trình đánh giá nghiêm túc, Bộ Nông nghiệp Cuba đã công nhận 6 giống lạc mới  như giống CUVI 17; CUVI 23; CUVI 27; CUVI 29; CUVI 32; CUVI 33 (CUVI là chữ viết tắt tên của 2 nước) đủ điều kiện sản xuất tại nước này trong sổ đăng ký giống thương mại của Cơ quan quản lý tài nguyên di truyền giống và thực vật Cuba ngày 9/7/2025.

eab9afcf-49ec-4e6a-855d-576a7c2b92bc_1776219200.jpeg

Điều đáng chú ý là, các giống lạc này có năng suất vượt trội, đạt trung bình từ 4,5-5,2 tấn/ha, thậm chí có giống đạt tới 5,5–6,3 tấn/ha. So với năng suất hiện tại của Cuba, năng suất các giống lạc mới tăng gấp từ 2-3 lần, đặc biệt các giống lạc mới chín tập trung và có hàm lượng dầu cao.

Không chỉ có năng suất cao, các giống lạc này còn có đặc điểm sinh trưởng phù hợp, ra hoa và kết quả tập trung, giúp thuận lợi cho thu hoạch và giảm chi phí lao động. Đây là yếu tố rất quan trọng trong bối cảnh Cuba đang thiếu hụt nguồn lực sản xuất.

Một điểm đáng mừng nữa là các giống này đã được phía Cuba đặt tên và chính thức đưa vào hệ thống sản xuất. Điều đó cho thấy sự tin tưởng và đánh giá cao của bạn đối với kết quả hợp tác.

a5_1776219255.jpg

Đoàn chuyên gia Việt Nam và ông Alexander Miranda Caballero, Vụ trưởng Vụ Khoa học môi trường, Bộ Nông nghiệp Cuba (MINAG) kiểm tra mô hình trồng đậu thử nghiệm tại đồng ruộng, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển.

PV: Sau thời gian triển khai thực tế tại Cuba, ông đánh giá như thế nào về khả năng thích nghi của các giống lạc Việt Nam và những vùng phù hợp để phát triển?

TS. Nguyễn Ngọc Quất: Qua quá trình triển khai, chúng tôi nhận thấy các giống lạc của Việt Nam có khả năng thích nghi rất tốt với điều kiện tự nhiên của Cuba. Về cơ bản, điều kiện khí hậu của Cuba – đặc biệt là nhiệt độ và độ ẩm – khá tương đồng với vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ Việt Nam, nên cây sinh trưởng và phát triển thuận lợi.

Ngoài ra, Cuba có nhiều vùng đất bazan và đất bỏ hoang, rất thích hợp để trồng lạc. Đây là lợi thế lớn, nếu được khai thác tốt sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao.

cum-1_1776219322.jpg

Chúng tôi đã triển khai khảo nghiệm tại một số địa phương như Balieco, San Nicolas de Bari (thuộc tỉnh Mayabeque) và tỉnh Matanzas. Kết quả cho thấy các giống lạc phát triển tốt, năng suất cao và ổn định.

Đặc biệt, tại một số trang trại tư nhân, năng suất đạt được còn cao hơn cả ở Việt Nam. Điều này cho thấy tiềm năng rất lớn nếu các giống này được nhân rộng và áp dụng đúng quy trình kỹ thuật.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng việc phát huy tối đa hiệu quả của giống còn phụ thuộc vào điều kiện canh tác, mức độ đầu tư và tổ chức sản xuất. Do đó, bên cạnh việc chuyển giao giống, chúng tôi cũng rất chú trọng đến việc hướng dẫn kỹ thuật và xây dựng mô hình sản xuất phù hợp.

PV: Từ những kết quả đạt được, trong thời gian tới Trung tâm có định hướng gì để tiếp tục phát triển hợp tác với Cuba?

TS. Nguyễn Ngọc Quất: Từ thành công của giai đoạn 1, hai bên đã thống nhất triển khai giai đoạn 2 trong khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam và Cuba. Nội dung này đã được đưa vào chương trình làm việc của Ủy ban liên Chính phủ giữa hai nước.

Đối với cây lạc và cây họ đậu, trong giai đoạn tới, chúng tôi sẽ tập trung mở rộng diện tích trồng các giống đã được công nhận, đồng thời tiếp tục chuyển giao kỹ thuật và vật tư nhằm nâng cao năng suất và sản lượng.

cum-4_1776219605.jpg

Bên cạnh đó, một hướng đi mới rất quan trọng là phát triển cây sắn tại Cuba. Đây là loại cây có vai trò lớn trong đời sống người dân Cuba, từ thực phẩm hàng ngày đến nguyên liệu cho chăn nuôi và chế biến.

Tuy nhiên, hiện nay Cuba đang thiếu các giống sắn có năng suất và chất lượng cao. Trong khi đó, Việt Nam đã có nhiều giống sắn ưu việt, có khả năng kháng bệnh tốt, năng suất cao gấp 2–3 lần so với giống hiện có của Cuba.

Chúng tôi dự kiến sẽ chuyển giao các giống sắn này sang Cuba để khảo nghiệm và từng bước nhân rộng. Trước mắt là phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, sau đó hướng tới chế biến sâu như sản xuất tinh bột sắn và các sản phẩm giá trị gia tăng.

Ngoài ra, việc hợp tác cũng sẽ gắn với doanh nghiệp để đảm bảo đầu ra cho sản phẩm, tạo chuỗi giá trị bền vững. Đây là hướng đi mang tính chiến lược, không chỉ giúp Cuba nâng cao năng lực sản xuất mà còn mở ra cơ hội hợp tác kinh tế sâu rộng hơn giữa hai nước.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Sỹ Tùng - Mạnh Hải
  • Nghiên cứu đánh giá tiềm năng tái chế chất thải nhựa tại quần đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, TP. Hải Phòng

    Nghiên cứu đánh giá tiềm năng tái chế chất thải nhựa tại quần đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, TP. Hải Phòng

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm bổ sung một số số liệu góp phần hoàn thiện cơ sở dữ liệu về công tác tái chế, quản lý rác thải nhựa tại quần đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, TP. Hải Phòng, góp phần vào hoạt động quản lý chất thải nhựa theo các kế hoạch quốc gia. Kết quả khảo sát thực tế tại khu vực nghiên cứu vào tháng 12/2021 đã xác định được khối lượng rác thải nhựa trung bình/ngày được các hộ thu gom phế liệu thu mua tại k hu vực nghiên cứu và thành phần rác thải nhựa được thu gom. Nghiên cứu cũng đánh giá được nhận thức của người dân trong việc phân loại rác thải nhựa phục vụ cho mục đích tái chế, quản lý. Trong thời gian tới, cùng với sự đầu tư và phát triển kinh tế, lượng khách du lịch đổ về ngày càng nhiều, lượng rác thải nhựa sẽ còn phát sinh rất lớn vì vậy, tiềm năng tái chế tại Cát Bà được đánh giá rất lớn. Đây sẽ là giải pháp cấp thiết và lâu dài nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng thương hiệu “Cát Bà xanh”.

  • Xác định hàm lượng chất lơ lửng trong nước mặt khu vực sông Hồng và sông Đuống đoạn chảy qua TP. Hà Nội bằng dữ liệu ảnh viễn thám quang học Sentinel 2

    Xác định hàm lượng chất lơ lửng trong nước mặt khu vực sông Hồng và sông Đuống đoạn chảy qua TP. Hà Nội bằng dữ liệu ảnh viễn thám quang học Sentinel 2

    Hàm lượng chất lơ lửng là một trong những thông số quan trọng trong đánh giá chất lượng nước mặt. Bài báo này trình bày kết quả “Nghiên cứu xác định hàm lượng chất lơ lửng trong nước mặt khu vực sông Hồng và sông Đuống đoạn chảy qua TP. Hà Nội bằng dữ liệu ảnh viễn thám quang học Sentinel 2 trên cơ sở phương pháp tỷ lệ ảnh”. Dữ liệu đo phổ phản xạ nước và hàm lượng chất lơ lửng tại 33 điểm mẫu được sử dụng để xây dựng hàm hồi quy. Kết quả nhận được cho thấy, hàm lượng chất lơ lửng trong nước mặt sông Hồng và sông Đuống đoạn chảy qua TP. Hà Nội có mối quan hệ tuyến tính chặt chẽ với tỉ lệ phản xạ phổ mặt nước tại dải sóng cận hồng ngoại (NIR) và đỏ. Sử dụng mô hình hồi quy này, trong nghiên cứu đã xác định hàm lượng chất lơ lửng trong nước mặt cho toàn bộ khu vực nghiên cứu. Kết quả nhận được trong bài báo có thể sử dụng nhằm cung cấp nhanh thông tin về hàm lượng chất lơ lửng, phục vụ công tác giám sát và đánh giá chất lượng nước mặt ở các lưu vực sông.

  • Hành động khẩn cứu lấy môi trường: Ba giải pháp khả thi

    Hành động khẩn cứu lấy môi trường: Ba giải pháp khả thi

    Theo một báo cáo của Liên hợp quốc được công bố tuần trước, nhịp sống xô bồ của các thành phố, đặc biệt là mật độ giao thông dày đặc, công trường xây dựng đang thi công và nhiều nguồn ô nhiễm tiếng ồn gây hại cho sức khỏe con người, gia tăng nguy cơ mắc cao huyết áp, tiểu đường và bệnh tim.

  • Phát thải khí CO2 từ phá rừng tăng gấp đôi chỉ trong 2 thập kỷ

    Phát thải khí CO2 từ phá rừng tăng gấp đôi chỉ trong 2 thập kỷ

    Một nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng, lượng khí thải CO2 từ nạn phá rừng nhiệt đới trong thế kỷ này cao hơn nhiều so với suy nghĩ trước đây, tăng gấp đôi chỉ trong vòng 2 thập kỷ qua, và hiện vẫn đang trên đà gia tăng.

  • Cá voi là giải pháp của tự nhiên giúp chống biến đổi khí hậu

    Cá voi là giải pháp của tự nhiên giúp chống biến đổi khí hậu

    Cá voi đóng vai trò như một bể chứa carbon, đồng thời kích thích sự phát triển của những sinh vật phù du hấp thụ khí nhà kính.