Bao gói thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sau sử dụng là loại chất thải nguy hại phát sinh phân tán theo không gian và mùa vụ sản xuất. Thực tế tại tỉnh Tây Ninh cho thấy, bên cạnh việc duy trì các điểm, bể thu gom, yêu cầu cấp thiết là chấn chỉnh khâu quản lý, lưu giữ, vận chuyển và xử lý, từng bước hình thành hệ thống tiếp nhận ổn định, hướng tới mục tiêu thu gom, xử lý 100% bao gói thuốc BVTV sau sử dụng vào năm 2030.
Thời gian qua, các địa phương trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã bố trí điểm, bể thu gom vỏ bao thuốc BVTV tại một số khu vực sản xuất nông nghiệp, góp phần hạn chế tình trạng vứt bỏ trực tiếp trên đồng ruộng, kênh, mương. Tuy nhiên, qua kiểm tra, giám sát, Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) Tây Ninh ghi nhận công tác thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý vỏ bao thuốc BVTV sau sử dụng tại một số địa phương vẫn còn nhiều bất cập. Đáng lưu ý, những hạn chế không chỉ nằm ở cơ sở vật chất mà còn liên quan trực tiếp đến cách thức tổ chức và quản lý. Việc bố trí điểm, bể thu gom tại một số nơi chưa được khảo sát hợp lý về vị trí, phạm vi phục vụ, mật độ canh tác, tuyến đường vận chuyển và khả năng quản lý.
Có điểm đặt quá xa khu vực sản xuất nên người dân ít sử dụng. Trong khi đó, một số điểm nằm gần đường dân sinh, khu dân cư hoặc nơi thuận tiện đi lại lại bị sử dụng như điểm bỏ rác công cộng. Một số điểm thu gom chưa có biển hướng dẫn rõ ràng, không có nắp đậy hoặc mái che, chưa được giao cụ thể cho tổ chức, cá nhân quản lý, theo dõi và vệ sinh thường xuyên. Bên cạnh đó, tại nhiều điểm thu gom còn xảy ra tình trạng rác thải sinh hoạt, bao bì phân bón, chai nhựa, túi ni-lông, hộp xốp, chai lọ thuốc thú y, cành cây, cỏ, đất bùn và các loại chất thải khác bị bỏ lẫn với bao gói thuốc BVTV. Việc chất thải bị bỏ lẫn không chỉ làm mất chức năng của điểm thu gom mà còn gây khó khăn cho các công đoạn phân loại, kiểm đếm, đóng gói và bàn giao cho đơn vị có chức năng xử lý. Khối lượng chất thải thực tế tăng lên, kéo theo chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý. Có trường hợp đơn vị xử lý chưa thể tiếp nhận ngay vì chất thải chưa được phân loại hoặc không đúng nội dung hợp đồng.
Một điểm nghẽn khác là hoạt động kiểm tra, theo dõi và thu gom tại một số địa phương chưa được thực hiện thường xuyên, chủ yếu tổ chức theo từng đợt hoặc khi điểm thu gom đã đầy. Trong khi khối lượng bao gói phát sinh tại từng điểm nhỏ, phân tán theo mùa vụ, chi phí vận chuyển, xử lý tương đối cao, một số địa phương có xu hướng chờ tích lũy đủ khối lượng hoặc chờ bố trí kinh phí mới thực hiện chuyển giao.
Hệ quả là vỏ bao thuốc BVTV và các loại chất thải bỏ lẫn có thể tồn lưu trong thời gian dài, bể chứa quá tải, chất thải tràn ra ngoài hoặc tiếp tục bị bỏ xung quanh khu vực thu gom. Khi đó, điểm thu gom vốn được thiết lập để kiểm soát chất thải nguy hại lại có nguy cơ trở thành nơi tập kết chất thải hỗn hợp, làm tăng gánh nặng quản lý và chi phí xử lý.
Phó Giám đốc Sở NN&MT Tây Ninh Trần Khắc Phục cho biết, một số bể chứa được đầu tư từ nhiều năm trước đã bị nứt, vỡ, mất nắp, hư hỏng biển báo hoặc không còn phù hợp với hiện trạng sản xuất và giao thông nội đồng. Tại những khu vực trũng thấp hoặc thường xuyên ngập nước, nước mưa có thể chảy vào bể chứa, làm phát tán lượng hóa chất còn sót lại trong vỏ bao thuốc ra đất, kênh, mương và nguồn nước xung quanh. Việc lưu giữ kéo dài trong điều kiện không bảo đảm còn có thể phát sinh mùi, làm mất mỹ quan, ảnh hưởng đến an toàn của người dân và người trực tiếp thu gom.
Nguyên nhân của những tồn tại này chủ yếu do chưa làm rõ đầu mối chịu trách nhiệm quản lý từng điểm thu gom; việc tuyên truyền, hướng dẫn người dân về loại chất thải được phép bỏ vào bể chưa đầy đủ; chưa xây dựng lịch thu gom phù hợp với mùa vụ và khối lượng phát sinh. Bên cạnh đó, nguồn kinh phí để xử lý còn phụ thuộc vào ngân sách địa phương và chưa ổn định. Sự tham gia của các cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sản xuất, phân phối thuốc BVTV, hợp tác xã và các tổ chức nông dân còn hạn chế. Việc kiểm tra, phát hiện, xử lý hành vi bỏ chất thải không đúng loại cũng gặp khó khăn do địa bàn rộng, các điểm thu gom phân tán và khó xác định người vi phạm.
Những hạn chế này cho thấy, bài toán thu gom bao gói thuốc BVTV sau sử dụng không thể chỉ giải quyết bằng việc tăng thêm bể chứa. Nếu thiếu đầu mối quản lý rõ ràng, thiếu lịch thu gom ổn định và thiếu sự kết nối giữa nơi phát sinh với đơn vị xử lý, hệ thống thu gom rất dễ rơi vào tình trạng quá tải, hoạt động không hiệu quả.
Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Kế hoạch số 1248/KH-UBND về thu gom, vận chuyển và xử lý bao bì thuốc BVTV sau sử dụng trên địa bàn tỉnh nhằm tăng cường quản lý chất thải trong sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Kế hoạch được xây dựng hướng tới nâng cao tỷ lệ thu gom, xử lý bao gói thuốc BVTV phát sinh trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, góp phần xây dựng nền nông nghiệp sạch, bền vững, gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh.
Theo kế hoạch, việc thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng được triển khai theo quy trình 3 bước. Người sử dụng thuốc có trách nhiệm thu gom toàn bộ bao gói sau sử dụng, đưa vào bể chứa hoặc thùng chứa chuyên dụng. UBND các xã, phường, tổ chức thu gom, vận chuyển đến điểm tập kết và ký hợp đồng với đơn vị có chức năng xử lý chất thải nguy hại để xử lý theo đúng quy định.
Tỉnh Tây Ninh đặt mục tiêu đến năm 2026 thu gom đạt 80% tổng lượng phát sinh và đến năm 2030 đạt 100%. Các xã điểm phấn đấu thực hiện đạt lộ trình nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 đạt 100% lượng bao bì thuốc BVTV sau sử dụng được thu gom, vận chuyển và xử lý theo quy định. Theo đó, tỉnh đề nghị các địa phương rà soát, đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động của các điểm, bể thu gom hiện có; tiếp tục duy trì những điểm hoạt động hiệu quả, được quản lý và chuyển giao xử lý thường xuyên. Đối với những điểm không còn phù hợp hoặc hoạt động kém hiệu quả, địa phương cần sửa chữa, di dời hoặc chấm dứt hoạt động.
Yêu cầu đặt ra không đơn thuần là duy trì số lượng điểm thu gom mà phải bảo đảm mỗi điểm thực sự phù hợp với khu vực sản xuất, thuận tiện cho người dân và có khả năng quản lý, thu gom, chuyển giao xử lý. Việc rà soát cũng nhằm hạn chế tình trạng đầu tư nhưng không phát huy hiệu quả, đồng thời khắc phục những điểm đã xuống cấp hoặc không còn phù hợp với điều kiện thực tế.
Phó Giám đốc Sở NN&MT Trần Khắc Phục đề nghị các đơn vị liên quan từng bước nghiên cứu, triển khai mô hình tiếp nhận vỏ bao thuốc BVTV sau sử dụng tại các cơ sở kinh doanh thuốc BVTV, hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc những địa điểm có tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý.
Việc hình thành các đầu mối tiếp nhận ổn định được kỳ vọng tạo thuận lợi cho người dân, hạn chế tình trạng bỏ lẫn các loại chất thải khác, đồng thời nâng cao hiệu quả thống kê, kiểm tra, thu gom, vận chuyển và chuyển giao xử lý. Đây cũng là hướng từng bước giảm sự phụ thuộc vào các điểm, bể thu gom phân tán ngoài đồng ruộng tại những khu vực không còn phù hợp.
Trong những tháng còn lại của năm 2026, UBND các xã, phường được yêu cầu rà soát nhu cầu và khối lượng bao gói thuốc BVTV sau sử dụng phát sinh trên địa bàn; phối hợp với các xã, phường lân cận để thống nhất lựa chọn đơn vị có chức năng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại.
Các địa phương cùng đơn vị được lựa chọn xây dựng phương án, tuyến và lịch trình thu gom trên địa bàn nhiều xã, phường nhằm tối ưu hoạt động, giảm chi phí vận chuyển, xử lý và nâng cao hiệu quả thu gom. Sở NN&MT sẽ phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan nghiên cứu, huy động và lồng ghép các nguồn kinh phí hợp pháp để hỗ trợ địa phương thực hiện.
Từ năm 2027 và những năm tiếp theo, UBND các xã, phường chủ động bố trí kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường trong dự toán ngân sách hằng năm để thực hiện công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng, chất thải nguy hại của hộ gia đình; huy động các nguồn lực hợp pháp khác phục vụ công tác bảo vệ môi trường.
Kế hoạch số 1248/KH-UBND với mục tiêu thu gom 80% tổng lượng phát sinh vào năm 2026 và 100% vào năm 2030 đang đặt ra một lộ trình cụ thể cho tỉnh Tây Ninh. Việc chấn chỉnh các điểm thu gom hiện có, hình thành những đầu mối tiếp nhận ổn định, xây dựng tuyến và lịch trình thu gom phù hợp, bảo đảm nguồn kinh phí và nâng cao trách nhiệm của người sử dụng thuốc sẽ là những bước quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu, góp phần hạn chế nguy cơ ô nhiễm từ chất thải nguy hại trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng nền nông nghiệp xanh, an toàn, bền vững.