news
Xuất bản: Thứ bảy, 12/9/2026, 23:50 (GMT+7)

thumbnail-ok_1789006988.jpg

nen-trang_1788945338.jpg

Đối với ngành nuôi biển, con giống là một trong những mắt xích quan trọng tạo nền tảng cho phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng hiện đại, quy mô lớn. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã trao đổi với TS. Trần Thế Mưu, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam về những nhiệm vụ trọng tâm, điểm nghẽn về con giống và các giải pháp huy động nguồn lực phát triển ngành nuôi biển trong thời gian tới.

nen-trang_1788945338.jpg

tit-1_1788942096.jpg

nen-trang_1788945338.jpg

PV: Thưa ông, để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh vào năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, trong phát triển nuôi biển, đâu là những nhiệm vụ ưu tiên cần triển khai?

TS. Trần Thế Mưu: Theo tôi, yêu cầu quan trọng nhất hiện nay là phải chuyển nhanh từ tư duy “phát triển nuôi biển” theo nghĩa mở rộng diện tích và sản lượng sang xây dựng một ngành nuôi biển hiện đại, công nghiệp, xanh và có năng lực cạnh tranh.

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh rằng, biển không chỉ là nơi khai thác tài nguyên mà là không gian phát triển chiến lược của quốc gia. Việc khai thác, sử dụng không gian biển phải dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị hiện đại. Đối với nuôi biển, theo tôi có một số nhiệm vụ cần ưu tiên triển khai ngay, đó là:

Trước hết, hoàn thiện quy hoạch, phân vùng và giao mặt nước biển ổn định, lâu dài cho tổ chức, doanh nghiệp và người dân. Muốn đầu tư nuôi biển công nghiệp, đặc biệt là nuôi xa bờ, nhà đầu tư phải có không gian sản xuất rõ ràng, ổn định và có tính pháp lý để có thể đầu tư hạ tầng, tiếp cận tín dụng, bảo hiểm và tổ chức sản xuất dài hạn. Quy hoạch vùng nuôi đồng thời phải dựa trên điều kiện thủy động lực, môi trường và sức tải sinh thái, tránh phát triển tự phát rồi xử lý hậu quả về sau.

nen-trang_1788945338.jpg

mo-hinh-nuoi-ca-bien-bang-long-hdpe-tai-vinh-cam-ranh-mang-lai-hieu-qua-kinh-te-vuot-troi.-anh-ngoc-phuc_1788943264.jpg
TS. Phùng Đức Tiến (thứ tư từ phải sang), nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, cùng đoàn công tác thăm mô hình nuôi biển công nghệ cao bằng lồng HDPE 
tại xã  Cam Lập, Khánh Hòa. Ảnh Kim Sơ

nen-trang_1788945338.jpg

Thứ hai, sớm hình thành đồng bộ chuỗi công nghệ nuôi biển, từ con giống chất lượng cao, thức ăn công nghiệp, phòng và kiểm soát dịch bệnh đến lồng nuôi, hệ thống neo, cơ giới hóa, tự động hóa, quan trắc môi trường, logistics, thu hoạch, bảo quản và chế biến. Nuôi biển công nghiệp không thể chỉ được hiểu là thay lồng gỗ bằng lồng HDPE, đó phải là sự thay đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất.

Thứ ba, đẩy mạnh ưu tiên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chúng ta cần làm chủ công nghệ sản xuất giống các đối tượng chủ lực, từng bước chọn giống theo các tính trạng tăng trưởng nhanh, chống chịu tốt và phù hợp điều kiện nuôi biển Việt Nam. Đồng thời phát triển thức ăn, vacxin, giải pháp phòng bệnh, công nghệ nuôi xa bờ, quan trắc và cảnh báo môi trường.

Đặc biệt, dữ liệu, cảm biến, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo cần được đưa vào quản lý trang trại để chuyển dần từ quyết định dựa chủ yếu vào kinh nghiệm sang quyết định dựa trên dữ liệu và dự báo.


nen-trang_1788945338.jpg
cum-1_1788942264.jpg
Mô hình lồng nuôi bằng nhựa HDPE tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu hư hại lồng bè trước điều kiện thời tiết.

nen-trang_1788945338.jpg

Thứ tư, cần tăng cường đầu tư hạ tầng và dịch vụ hậu cần. Nuôi biển xa bờ sẽ khó phát triển nếu thiếu cảng dịch vụ, tàu chuyên dụng, cơ sở giống, hệ thống cung ứng thức ăn, kho lạnh, chế biến và mạng lưới quan trắc, cảnh báo thiên tai…

Cuối cùng, phát triển thị trường và tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị. Chúng ta phải hướng đến sản phẩm có tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận môi trường và đáp ứng yêu cầu của các thị trường có giá trị cao.

Tôi cho rằng, chúng ta muốn trở thành quốc gia biển mạnh thì nuôi biển không thể chỉ “ra xa hơn” mà phải “đi lên một trình độ cao hơn”. Từ nhỏ lẻ sang công nghiệp, từ kinh nghiệm sang khoa học, từ sản xuất đơn lẻ sang chuỗi giá trị và từ khai thác không gian biển sang quản trị không gian biển một cách hiệu quả, bền vững.

 nen-trang_1788945338.jpg

tit-2_1788942756.jpg

nen-trang_1788945338.jpg

PV: Theo ông, đâu là những “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay trong phát triển con giống thủy sản để phục vụ phát triển nghề nuôi biển?

TS. Trần Thế Mưu: Điểm nghẽn đầu tiên là chất lượng và tính ổn định của con giống. Trong nuôi biển công nghiệp, chúng ta không chỉ cần “có giống” mà cần giống có chất lượng đồng đều, tăng trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao, sức chống chịu tốt và có khả năng truy xuất nguồn gốc.

Với nhiều đối tượng, sản xuất hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên đàn bố mẹ chưa qua chọn lọc hoặc mức độ chọn giống còn hạn chế. Điều này làm cho chất lượng giữa các lô giống chưa ổn định và khó phát huy tối đa tiềm năng tăng trưởng khi đưa vào nuôi quy mô lớn.

nen-trang_1788945338.jpg

box-1_1789006617.jpg

nen-trang_1788945338.jpg

Điểm nghẽn thứ hai là công tác quản lý đàn bố mẹ và nguồn gen. Muốn có ngành giống bền vững phải có đàn bố mẹ được quản lý về nguồn gốc, di truyền, sức khỏe và được thay thế có kế hoạch. Nếu sử dụng đàn bố mẹ trong phạm vi hẹp qua nhiều thế hệ mà không có chương trình quản lý di truyền phù hợp thì nguy cơ xảy ra cận huyết, suy giảm tăng trưởng của đối tượng nuôi.

nen-trang_1788945338.jpg

cum-2_1788943163.jpg
Theo TS. Trần Thế Mưu, muốn có ngành giống thủy sản bền vững phải có đàn bố mẹ được quản lý về nguồn gốc, di truyền, sức khỏe và được thay thế có kế hoạch.

nen-trang_1788945338.jpg

Bên cạnh về công tác quản lý bố mẹ, hiện nay năng lực cung ứng giống quy mô lớn, đúng thời vụ và sự đồng đều con giống của chúng ta còn nhiều hạn chế. Một trang trại nuôi biển công nghiệp có thể cần hàng trăm nghìn đến hàng triệu con giống trong một thời gian tương đối ngắn. Vì vậy, công nghệ sản xuất giống phải tiến từ quy mô nghiên cứu hoặc sản xuất nhỏ sang hệ thống có khả năng cung ứng ổn định, kiểm soát an toàn sinh học và chất lượng theo tiêu chuẩn.

Đặc biệt, vấn đề dịch bệnh và an toàn sinh học đang là một khó khăn lớn trong sản xuất giống. Con giống chính là điểm đầu của chuỗi sản xuất. Nếu giống mang mầm bệnh hoặc không được kiểm soát sức khỏe đầy đủ thì rủi ro sẽ được đưa trực tiếp vào vùng nuôi. Do đó cần tăng cường hệ thống kiểm dịch, chẩn đoán sớm, giám sát mầm bệnh và xây dựng cơ sở sản xuất giống an toàn sinh học.

nen-trang_1788945338.jpg

cum-2a_1788943125.jpg
Khi người nuôi chuyển sang lồng HDPE, độ bền của lồng cũng như sức chống chịu trước bão, sóng, gió sẽ tốt hơn lồng bè bằng gỗ, sẽ giảm thiểu tối đa thiệt hại thủy sản nuôi khi có bão đổ bộ vào.

nen-trang_1788945338.jpg

Cuối cùng là khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa. Thời gian qua, nhiều viện, trường đã tạo ra công nghệ sản xuất giống tốt nhưng việc chuyển từ kết quả nghiên cứu sang sản xuất hàng triệu con giống có chất lượng ổn định đòi hỏi vốn, cơ sở vật chất, quản trị và thị trường mà một đơn vị nghiên cứu khó có thể tự thực hiện.

Vì vậy, giai đoạn tới cần chuyển trọng tâm từ “nghiên cứu sản xuất được giống” sang “xây dựng ngành công nghiệp giống”. Điều đó bao gồm bảo tồn và khai thác nguồn gen, chọn giống, quản lý đàn bố mẹ, dinh dưỡng, an toàn sinh học, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đặc biệt là liên kết chặt chẽ giữa viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

nen-trang_1788945338.jpg

tit-3_1788942840.jpg

nen-trang_1788945338.jpg

PV: Vậy chúng ta cần hoàn thiện cơ chế, chính sách như thế nào để thu hút mạnh mẽ nguồn lực xã hội và doanh nghiệp đầu tư vào phát triển giống thủy sản chất lượng cao phục vụ nuôi biển?

TS. Trần Thế Mưu: Tôi cho rằng, để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào giống thủy sản biển, trước hết phải nhìn đúng đặc thù của lĩnh vực này. Nghiên cứu và phát triển một giống mới hoặc một chương trình chọn giống cần thời gian dài, vốn đầu tư lớn, cơ sở vật chất chuyên biệt và mức độ rủi ro cao, trong khi kết quả không thể thu hồi vốn ngay trong một vài vụ sản xuất.

Vì vậy, nếu chỉ trông chờ vào nguồn lực Nhà nước thì khó tạo được quy mô, nhưng nếu để doanh nghiệp tự gánh toàn bộ rủi ro nghiên cứu ban đầu thì cũng khó thu hút đầu tư.

Vì vậy, tôi cho rằng cần thiết kế cơ chế theo hướng Nhà nước và doanh nghiệp cùng đầu tư nhưng phân vai rõ ràng. Nhà nước nên tập trung cho những phần mang tính nền tảng và lợi ích công như điều tra, bảo tồn nguồn gen; xây dựng đàn vật liệu ban đầu; nghiên cứu công nghệ nền tảng; kiểm soát dịch bệnh; xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, cơ sở dữ liệu và đào tạo nguồn nhân lực…

nen-trang_1788945338.jpg

box-2_1789006652.jpg

nen-trang_1788945338.jpg

Doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu, cùng đầu tư nghiên cứu, thử nghiệm ở quy mô sản xuất và đảm nhận khâu thương mại hóa.

Đặc biệt, cần có cơ chế đặt hàng nghiên cứu xuất phát từ bài toán của doanh nghiệp và thị trường. Thay vì viện nghiên cứu hoàn thành một quy trình rồi mới tìm nơi chuyển giao, doanh nghiệp cần tham gia từ đầu: cần giống gì, quy mô bao nhiêu, tiêu chí tăng trưởng, tỷ lệ sống, khả năng chống chịu và giá thành như thế nào... Khi đó kết quả khoa học sẽ gần sản xuất và khả năng thương mại hóa cao hơn.

Cùng với đó là sớm hoàn thiện cơ chế về quyền sở hữu, khai thác và chia sẻ lợi ích đối với giống mới, dòng chọn lọc và kết quả nghiên cứu được hình thành từ nguồn vốn hỗn hợp. Khi quyền lợi của nhà khoa học, tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp được xác định rõ thì các bên mới có động lực đầu tư dài hạn.

nen-trang_1788945338.jpg

cum-3anh-vien_1788943073.jpg
Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam - "đầu tàu" cung cấp nền tảng khoa học công nghệ trong ngành nuôi biển.

nen-trang_1788945338.jpg

Một vấn đề rất quan trọng nữa là tín dụng và đầu tư. Các cơ sở giống công nghệ cao cần hệ thống xử lý nước, bể nuôi, phòng kiểm nghiệm, đàn bố mẹ, thiết bị và đội ngũ kỹ thuật có trình độ. Vì vậy, nên có cơ chế tín dụng dài hạn, ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đổi mới công nghệ và hình thành các trung tâm giống, vùng sản xuất giống tập trung gắn với các vùng nuôi biển trọng điểm.

Đồng thời, chính sách phải tạo ra một thị trường giống minh bạch. Cần tăng cường quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch và xử lý giống không rõ nguồn gốc. Khi giống chất lượng thấp vẫn có thể lưu thông với giá rẻ thì doanh nghiệp đầu tư bài bản sẽ khó cạnh tranh. Ngược lại, khi thị trường coi chất lượng và truy xuất nguồn gốc là yêu cầu bắt buộc thì đầu tư vào giống tốt sẽ trở thành một lợi thế kinh doanh.

nen-trang_1788945338.jpg

cum-3a-copy_1788942934.jpg
Trung tâm nghiên cứu môi trường và bệnh thủy sản miền Bắc - Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam.

nen-trang_1788945338.jpg

tit-4_1788943204.jpg

nen-trang_1788945338.jpg

PV: Ông kỳ vọng Nghị quyết 20 sẽ tạo ra những chuyển biến gì đối với nghề nuôi biển và đời sống người dân ven biển trong những năm tới?

TS. Trần Thế Mưu: Nghị quyết số 20-NQ/TW sẽ tạo ra một thay đổi trước hết về tư duy: từ phát triển từng ngành kinh tế biển riêng lẻ sang xây dựng một quốc gia biển mạnh, trong đó biển được nhìn nhận như một không gian phát triển tổng hợp, được quản trị bằng khoa học, công nghệ, dữ liệu và thể chế hiện đại.

Đối với nghề nuôi biển, chuyển biến đầu tiên mà tôi kỳ vọng là không gian sản xuất sẽ được tổ chức rõ ràng hơn. Khi quy hoạch biển, giao khu vực biển, hạ tầng và cơ chế đầu tư được hoàn thiện, người dân và doanh nghiệp sẽ có điều kiện chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ, ngắn hạn sang đầu tư dài hạn, quy mô lớn và có trách nhiệm hơn với môi trường.

Chuyển biến thứ hai là cơ cấu nghề nuôi sẽ thay đổi. Sẽ hình thành ngày càng nhiều vùng nuôi công nghiệp, trang trại xa bờ, sử dụng lồng và thiết bị có khả năng chống chịu điều kiện biển mở, sử dụng giống chất lượng cao, thức ăn công nghiệp, ứng dụng tự động hóa, quan trắc môi trường, dữ liệu số và hệ thống cảnh báo.

Đồng thời, các đối tượng khác như nhuyễn thể, rong biển và các mô hình nuôi đa loài phù hợp cần được phát triển để vừa tạo sản phẩm, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng không gian và giảm áp lực môi trường.

nen-trang_1788945338.jpg

cum-1a_1788942670.jpg
Mô hình nuôi cá chim vàng trong lồng HDPE tại Nha Trang, Khánh Hòa. 

nen-trang_1788945338.jpg

Đặc biệt, nuôi biển sẽ không còn được nhìn nhận đơn thuần là nghề sản xuất cá, tôm hay nhuyễn thể mà sẽ hình thành một hệ sinh thái kinh tế biển. Xung quanh một vùng nuôi có thể phát triển sản xuất giống, thức ăn, thiết bị, tàu dịch vụ, logistics, chế biến, kho lạnh, dịch vụ kỹ thuật, bảo hiểm, du lịch và nhiều ngành nghề hỗ trợ khác. Khi đó, giá trị tạo ra từ một đơn vị không gian biển sẽ lớn hơn nhiều so với giá trị của sản phẩm nuôi đơn thuần.

Đối với người dân ven biển, điều quan trọng nhất là quá trình này phải tạo ra sinh kế tốt hơn và bền vững hơn. Người dân cần được hỗ trợ chuyển đổi từ phương thức nuôi nhỏ lẻ, rủi ro cao sang tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc liên kết với doanh nghiệp, được đào tạo kỹ năng mới, tiếp cận công nghệ, tín dụng, bảo hiểm và thị trường...

Công nghiệp hóa nuôi biển không có nghĩa là người dân bị đứng ngoài cuộc, mà phải tạo điều kiện để họ tham gia vào chuỗi giá trị ở những vị trí phù hợp và có thu nhập cao hơn.

Về lâu dài, chúng ta sẽ chuyển từ một nền sản xuất chủ yếu “dựa vào điều kiện tự nhiên” sang một ngành kinh tế “làm chủ điều kiện sản xuất” bằng khoa học và công nghệ. Khi đó, nuôi biển vừa cung cấp thực phẩm và hàng hóa xuất khẩu, vừa tạo việc làm, giảm áp lực lên nguồn lợi khai thác tự nhiên, góp phần bảo vệ hệ sinh thái và duy trì cộng đồng dân cư, hoạt động kinh tế ổn định trên các vùng biển, đảo.

nen-trang_1788945338.jpg

cum-4a_1789006013.jpg
Đa dạng hóa các đối tượng nuôi biển.

 

Nếu thực hiện tốt Nghị quyết 20, tôi cho rằng, thành công không nên chỉ được đo bằng việc sản lượng nuôi biển tăng bao nhiêu. Quan trọng hơn là chúng ta tạo được bao nhiêu giá trị trên một đơn vị không gian biển, người dân ven biển có thu nhập và chất lượng cuộc sống tốt hơn bao nhiêu, hệ sinh thái được bảo vệ như thế nào và Việt Nam làm chủ được bao nhiêu công nghệ biển. Đó mới là những nền tảng thực chất của một quốc gia biển mạnh.

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!

Bài 2: Thức ăn - yếu tố quyết định chất lượng sản phẩm thủy sản

Lê Hải - Sỹ Tùng