Trong bối cảnh hàng loạt công trình giao thông, khu công nghiệp, khu tái định cư và hạ tầng kỹ thuật đồng loạt triển khai, nhu cầu vật liệu xây dựng tại Quảng Ngãi tăng mạnh chưa từng có. Thế nhưng, tại địa phương được đánh giá có nguồn khoáng sản khá dồi dào, nhiều dự án vẫn phải thi công cầm chừng vì thiếu đất san lấp, cát và đá xây dựng. Nghịch lý ấy cho thấy bài toán đặt ra không còn là tìm kiếm tài nguyên, mà là làm thế nào để nguồn tài nguyên sẵn có trở thành nguồn lực phục vụ phát triển.
|
LTS: Đầu tư công được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng của Quảng Ngãi sau khi hợp nhất đơn vị hành chính. Hàng loạt công trình giao thông, thủy lợi, khu tái định cư, hạ tầng đô thị và các dự án động lực đang đồng loạt triển khai, kéo theo nhu cầu rất lớn về đất san lấp, cát xây dựng và đá làm vật liệu. Trong khi đó, Quảng Ngãi được đánh giá là địa phương có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú. Thế nhưng, nghịch lý vẫn diễn ra nhiều năm qua là không ít công trình phải thi công cầm chừng, tiến độ bị ảnh hưởng vì thiếu vật liệu xây dựng. Có dự án phải vận chuyển đất từ nơi khác với chi phí cao, có nơi mỏ đã quy hoạch nhưng chưa thể khai thác, còn doanh nghiệp thì mất nhiều thời gian hoàn thiện thủ tục. Thực trạng này không chỉ làm gia tăng chi phí đầu tư mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mục tiêu tăng trưởng kinh tế của địa phương. |
Khi vật liệu trở thành "nút cổ chai" của dự án
Những năm gần đây, Quảng Ngãi tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng nhằm mở rộng không gian phát triển, tạo động lực tăng trưởng kinh tế. Hàng loạt dự án giao thông, khu công nghiệp, khu tái định cư và công trình trọng điểm được triển khai đồng thời kéo theo nhu cầu rất lớn về đất san lấp, cát và đá xây dựng. Thế nhưng, ngay khi các công trình bước vào giai đoạn tăng tốc, bài toán vật liệu xây dựng lại trở thành điểm nghẽn.
Ở khu vực phía Tây tỉnh, Dự án nâng cấp, cải tạo Tỉnh lộ 676 giữ vai trò đặc biệt quan trọng khi kết nối các xã Măng Đen, Măng Bút với các xã phía Đông tỉnh Quảng Ngãi. Tuyến đường dài hơn 56km, có tổng mức đầu tư khoảng 1.300 tỷ đồng, được kỳ vọng góp phần giảm tải cho Quốc lộ 24, mở rộng không gian phát triển vùng phía Tây và thúc đẩy du lịch Măng Đen.
Tuy nhiên, sau khi khởi công cuối năm 2022, dự án liên tục gặp khó khăn do thiếu nguồn đất san lấp. Trong tổng nhu cầu khoảng 170.000m³ đất, đến nay mới đáp ứng được khoảng 50.000m³, khiến tiến độ thi công bị ảnh hưởng.
Theo Giám đốc điều hành Dự án đầu tư xây dựng cải tạo, nâng cấp Tỉnh lộ 676 Phùng Văn Long, để đảm bảo tiến độ dự án, UBND tỉnh cần sớm bổ sung mỏ vật liệu đủ trữ lượng, công suất khai thác phục vụ thi công.
Không chỉ Tỉnh lộ 676, tình trạng thiếu vật liệu cũng diễn ra tại nhiều dự án ở khu vực phía Đông. Đơn cử, Dự án đường Hoàng Sa - Dốc Sỏi có tổng vốn đầu tư 3.500 tỷ đồng cần gần 5 triệu m³ đất đắp, nhưng dọc tuyến hiện chỉ có hai mỏ đang hoạt động. Nguồn cung hạn chế khiến việc tổ chức thi công gặp nhiều trở ngại.
Thực trạng trên đặt ra một nghịch lý đáng suy ngẫm. Trong khi nhiều địa phương gặp khó vì thiếu tài nguyên thì Quảng Ngãi lại sở hữu nguồn khoáng sản xây dựng khá lớn. Theo Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, toàn tỉnh có 730 khu vực mỏ vật liệu xây dựng thông thường, gồm 176 mỏ đá, 227 mỏ cát và 327 mỏ đất san lấp, với tài nguyên dự báo khoảng 300 triệu m³ đá, 50 triệu m³ cát và 350 triệu m³ đất san lấp. Hiện có 105 mỏ còn hiệu lực khai thác.
Dự báo đến năm 2030, nhu cầu vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh khoảng 17,2 triệu m³ đá, hơn 13 triệu m³ cát và gần 31 triệu m³ đất san lấp. So với tiềm năng tài nguyên hiện có, nguồn cung về lý thuyết hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu phát triển nếu được tổ chức khai thác và điều phối hiệu quả. Điều này cho thấy khoảng cách lớn nhất hiện nay không nằm giữa nhu cầu và trữ lượng khoáng sản, mà nằm giữa mỏ khoáng sản trong quy hoạch và nguồn vật liệu thực tế trên công trường.
Nguồn cung luôn “chậm một nhịp”
Giám đốc Sở Xây dựng Nguyễn Phúc Nhân khẳng định, Quảng Ngãi không thiếu vật liệu xây dựng. Điều địa phương còn thiếu là sự chủ động trong chuẩn bị nguồn cung. Bởi từ khi một khu vực được đưa vào quy hoạch đến khi hoàn thành các thủ tục để có thể khai thác là cả một quá trình kéo dài, nhanh nhất cũng mất khoảng một năm. Nếu không chuẩn bị trước, khi dự án khởi công sẽ rất khó đáp ứng nhu cầu vật liệu ngay lập tức.
Thực tế, nguồn cung luôn “chậm một nhịp” đang trở thành nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng thiếu vật liệu ở nhiều công trình. Theo phân tích của ngành xây dựng, nhiều dự án giao thông, khu tái định cư, hạ tầng đô thị, khu công nghiệp và công trình trọng điểm được triển khai cùng thời điểm, làm nhu cầu đất, cát tăng nhanh và tập trung theo từng khu vực. Trong khi đó, công suất khai thác, vị trí các mỏ và cự ly vận chuyển lại không đồng đều. Có nơi còn nguồn vật liệu nhưng ở xa công trình, ngược lại những khu vực có nhu cầu lớn lại chưa có mỏ đủ điều kiện khai thác.
Công tác khảo sát, dự báo nhu cầu vật liệu của một số chủ đầu tư và ban quản lý dự án cũng có thời điểm chưa sát thực tế. Việc xác định khối lượng sử dụng, thời điểm cần vật liệu, nguồn cung hay phương án dự phòng chưa được tính toán đầy đủ ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Khi công trình đồng loạt triển khai, sự bị động này nhanh chóng bộc lộ.
Một nguyên nhân khác nằm ở quá trình đưa các mỏ vào khai thác. Để một mỏ có thể cung cấp vật liệu cho thị trường phải trải qua nhiều thủ tục liên quan đến đấu giá quyền khai thác, thăm dò, phê duyệt trữ lượng, đầu tư, đất đai, môi trường và cấp phép khai thác. Chỉ cần một khâu bị kéo dài, toàn bộ quá trình sẽ chậm theo. Một số doanh nghiệp phải bổ sung hồ sơ nhiều lần; một số trường hợp chậm hoàn thiện thủ tục do năng lực tài chính, nhân lực hoặc chưa giải quyết xong mặt bằng.
Thực tế tại khu vực phía Tây tỉnh là ví dụ điển hình. Nhiều mỏ đã được thu hồi để rà soát từ nhiệm kỳ trước nhưng gần bốn năm vẫn chưa hoàn tất thủ tục để đưa trở lại khai thác. Thậm chí có doanh nghiệp đã đủ điều kiện theo quy định mới, hồ sơ đã được cơ quan chuyên môn thẩm định nhưng vẫn chưa được cấp phép do còn vướng trong cách áp dụng quy định cũ.
Ngoài ra, sản lượng khai thác thực tế tại một số mỏ còn thấp hơn công suất được cấp phép do điều kiện đường vào mỏ, mặt bằng, yêu cầu về môi trường, an toàn giao thông, sự đồng thuận của người dân và năng lực thiết bị của doanh nghiệp. Trong khi đó, việc chia sẻ dữ liệu, theo dõi cung - cầu và điều phối nguồn vật liệu giữa các cơ quan quản lý, địa phương và chủ đầu tư có thời điểm chưa thường xuyên, dẫn đến mất cân đối cục bộ giữa các khu vực.
Có thể thấy, nghịch lý "giàu tài nguyên nhưng thiếu vật liệu xây dựng" không xuất phát từ việc Quảng Ngãi thiếu đất, đá hay cát. Điểm nghẽn nằm ở khoảng cách giữa quy hoạch và thực thi; giữa tốc độ triển khai dự án với tiến độ hoàn thiện thủ tục khai thác; giữa nguồn tài nguyên sẵn có với khả năng chuẩn bị và điều phối nguồn cung.
Trong bối cảnh tỉnh đang đặt mục tiêu đẩy nhanh đầu tư hạ tầng và giải ngân vốn đầu tư công, bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng không còn là câu chuyện riêng của ngành quản lý khoáng sản. Đây là bài toán về năng lực dự báo, khả năng phối hợp và tính chủ động của cả hệ thống quản lý. Chỉ khi những "độ trễ" này được rút ngắn, lợi thế về tài nguyên mới thực sự trở thành lợi thế phát triển.
(Còn nữa)
Bài 2: Không để ách tắc bởi tư duy và thủ tục