Bài 2: Quảng Trị - Du lịch xanh từ ruộng đồng
Nghị quyết 26: Du lịch xanh – Từ thực tiễn Quảng Trị đến tư duy phát triển mới:

Bài 2: Quảng Trị - Du lịch xanh từ ruộng đồng

Thứ hai, 21/9/2026, 07:34 (GMT+7)
logo Ở Quảng Trị, từ những cánh đồng, khu vườn Bồng Lai, mặt nước Hồ Trằm đến những đồi cà phê Khe Sanh… không chỉ để sản xuất, mà còn tạo trải nghiệm, hình thành sản phẩm du lịch, tạo thêm sinh kế. Khi người dân có thể tạo thu nhập từ việc gìn giữ cảnh quan, làm ra sản phẩm và kể câu chuyện về quê hương mình, du lịch trở thành một động lực để tài nguyên được bảo vệ và gia tăng giá trị theo thời gian. Với Quảng Trị, những định hướng ấy đang từng bước được cụ thể hóa trong cách địa phương tổ chức lại không gian và sản phẩm du lịch, để tài nguyên không chỉ tạo ra một điểm đến, mà hình thành cả một hệ sinh thái kinh tế gắn với cộng đồng.

Đó cũng là cách cụ thể hóa tinh thần phát triển được đặt ra trong Nghị quyết 26-NQ/TW về phát triển vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ: tăng trưởng phải đi cùng bền vững, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế nhưng đồng thời phải bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, hệ sinh thái; phát triển kinh tế phải gắn với nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

 
11_1789545294.jpg
Tài sản du lịch xanh bắt đầu từ ruộng đồng, đến cảnh quan hồ nước...

Khi đồng ruộng trở thành tài sản du lịch

Bình minh vừa chạm xuống thung lũng Bồng Lai, những cánh đồng ven dòng Son còn bảng lảng hơi sương. Xa xa là những dãy núi đá vôi trùng điệp, phía dưới là màu xanh của ruộng lúa, vườn cây và những nếp nhà bình dị. Giữa không gian ấy, một đàn vịt trắng nối nhau chạy về phía du khách khi tiếng gọi thức ăn vang lên. Không có những công trình đồ sộ, cũng chẳng cần những trò chơi được đầu tư cầu kỳ; thứ tạo nên sức hút ở đây chính là ruộng đồng, ao cá, vườn cây, vật nuôi và những công việc vốn rất đỗi quen thuộc với người nông dân, nhưng khi được đặt vào một hành trình trải nghiệm lại trở thành một sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn riêng.

f3_1789545315.jpg
Du khách thích thú bắt cá tại The Duck Tang Farm - Quảng  Trị

Nằm nép mình trong thung lũng Bồng Lai, xã Bố Trạch, tỉnh Quảng Trị, cách trung tâm Phong Nha khoảng 10km, The Duck Tang Farm đang trở thành một điểm đến được nhiều du khách, đặc biệt là khách quốc tế, tìm đến để trải nghiệm đời sống nông thôn và văn hóa bản địa.

Hành trình trải nghiệm có thể bắt đầu từ những công việc tưởng như rất đỗi quen thuộc với người nông dân: đi giữa vườn cây, hái rau, nhặt trứng, chăm sóc cây trái, câu cá, xuống ao bắt cá, cho vịt ăn, cưỡi trâu hay đạp xe qua những con đường làng. Với người dân địa phương, đó là công việc thường ngày; nhưng với du khách quốc tế, việc được trực tiếp chạm vào đất, cây cối, vật nuôi và nhịp sống của một miền quê Việt Nam lại trở thành một trải nghiệm đặc biệt. Nhiều du khách không chỉ thích thú với những hoạt động dân dã mà còn đánh giá cao cảm giác được bước vào một không gian nông thôn thực sự, nơi họ không đứng ngoài quan sát mà trực tiếp tương tác với đời sống bản địa.

1m_1789545904.jpg
Hành trình trải nghiệm có thể bắt đầu từ những công việc tưởng như rất đỗi quen thuộc với người nông dân: đi giữa vườn cây, hái rau, nhặt trứng, chăm sóc cây trái, câu cá, xuống ao bắt cá, cho vịt ăn...

Chủ cơ sở The Duck Tang Farm, ông Nguyễn Văn Hùng, cho biết ban đầu gia đình chỉ làm nông nghiệp thuần túy. Tuy nhiên, nhận thấy du khách, nhất là khách quốc tế, thích thú với những trải nghiệm dân dã như cưỡi trâu, câu cá, cho vịt ăn và tham gia các công việc đồng áng, gia đình từng bước xây dựng mô hình du lịch nông nghiệp dựa trên chính những gì mình đang có. “Không cần đầu tư lớn, chỉ cần giữ được cái hồn quê, du khách đã rất yêu thích”, ông Hùng chia sẻ.

f10_1789545308.webp
Với du khách quốc tế, việc được trực tiếp chạm vào đất, cây cối, vật nuôi và nhịp sống của một miền quê Việt Nam lại trở thành một trải nghiệm đặc biệt.

Với khoảng 15 ha đất nông nghiệp, ông Hùng lựa chọn cách làm không chỉ dừng lại ở sản xuất truyền thống mà từng bước tổ chức lại các giá trị vốn có thành một không gian trải nghiệm. Mỗi ngày cơ sở của anh đón trên 50 khách tham gia trải nghiệm. Trên cùng một diện tích có vườn cây, ruộng, ao cá, khu chăn nuôi và những hoạt động gắn với đời sống nông thôn; du khách đến đây không chỉ tham quan mà có thể trực tiếp tham gia vào quá trình chăm sóc cây trồng, vật nuôi, câu cá, bắt cá, cưỡi trâu và thưởng thức những món ăn được chế biến từ sản vật tại chỗ.

Cách làm ấy cho thấy một hướng tiếp cận đáng chú ý trong phát triển du lịch nông nghiệp ở Bồng Lai: không nhất thiết phải tạo ra một không gian hoàn toàn mới để thu hút du khách, mà có thể bắt đầu từ việc nhận diện lại giá trị của những gì vốn đã hiện hữu. Một khu vườn không chỉ tạo ra nông sản mà còn có thể tạo trải nghiệm; một ao cá không chỉ phục vụ sản xuất mà còn trở thành không gian tương tác; con trâu, đàn vịt và những công việc thường ngày của người nông dân, khi được kết nối với du lịch, có thể trở thành những câu chuyện giúp du khách hiểu hơn về vùng đất và con người nơi đây.

f4_1789545322.jpg
Tài nguyên du lịch đôi khi không nằm ở những nơi xa xôi, mà ở ngay trước cửa nhà, trên thửa ruộng, trong khu vườn và trong chính đời sống thường nhật của cộng đồng.

Từ một mô hình sản xuất nông nghiệp, The Duck Tang Farm vì thế đang mở thêm một hướng tạo giá trị trên cùng tài nguyên đất đai, cảnh quan và đời sống bản địa. Nông nghiệp vẫn được duy trì, nhưng bên cạnh giá trị của nông sản xuất hiện thêm giá trị của trải nghiệm, của dịch vụ và của câu chuyện văn hóa. Đó cũng là cách để người dân có thêm sinh kế mà không nhất thiết phải rời bỏ nghề truyền thống, đồng thời biến chính những giá trị bình dị của làng quê thành một phần của chuỗi giá trị du lịch xanh.

 “Tiêu chí đầu tiên của Farm là thân thiện với môi trường, gần gũi với thiên nhiên, tạo những nét đặc sắc, giúp du khách có thêm nhiều trải nghiệm; đồng thời gia đình tôi có thêm thu nhập để trang trải cuộc sống, làm du lịch xanh an toàn, bền vững”, anh Hùng chia sẻ.

Từ cách làm ấy có thể nhận ra một điều tưởng như giản dị nhưng lại có ý nghĩa lớn đối với tư duy phát triển du lịch xanh: tài nguyên du lịch đôi khi không nằm ở những nơi xa xôi, mà ở ngay trước cửa nhà, trên thửa ruộng, trong khu vườn và trong chính đời sống thường nhật của cộng đồng. Một thửa ruộng vừa tạo ra hạt lúa, vừa tạo ra trải nghiệm; một khu vườn vừa cho trái, vừa kể câu chuyện về đất; một đàn vịt vừa tạo ra sản phẩm nông nghiệp, vừa trở thành ký ức vui vẻ trong hành trình của du khách.

Anh James, du khách đến từ Australia, cho rằng điều khiến anh thích thú không chỉ là những trải nghiệm vui với đàn vịt, mà còn là cảm giác được bước vào một không gian nông thôn thực sự, nơi du khách không đứng ngoài quan sát mà trực tiếp tương tác với vật nuôi, cây trái, đất đai và con người. Với Bồng Lai, nông nghiệp, cảnh quan, ẩm thực, trải nghiệm và văn hóa làng quê có thể cùng tồn tại trong một không gian, bổ trợ cho nhau thay vì cạnh tranh với nhau.

Theo cách đó, du lịch không thay thế nông nghiệp mà giúp nông nghiệp có thêm một đầu ra, cảnh quan không chỉ làm nền cho hoạt động du lịch mà trở thành một phần của sản phẩm; còn người dân không chỉ cung cấp nguyên liệu hay lao động mà từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Tư duy ấy phù hợp với định hướng phát triển vùng được đặt ra trong Nghị quyết 26-NQ/TW, trong đó việc cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng phải đi cùng sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên và nâng cao đời sống nhân dân. Với một địa phương có hệ sinh thái tài nguyên đa dạng như Quảng Trị, điều đó đặt ra yêu cầu không chỉ khai thác cái đang có, mà phải tìm cách gia tăng giá trị ngay trên nền tài nguyên ấy.

Hồ thủy lợi trở thành tài sản xanh

Nếu Bồng Lai cho thấy một mảnh ruộng có thể trở thành tài sản du lịch như thế nào, thì Hồ Trằm xã Nam Ba Đồn mở ra một câu chuyện rộng hơn về vốn tự nhiên. Bao năm qua, hồ trước hết được biết đến với chức năng tích nước, điều tiết nguồn nước và phục vụ sản xuất nông nghiệp. Giá trị của hồ từng được nhìn qua mực nước, diện tích tưới và hiệu quả sản xuất. Nhưng khi cách nhìn về tài nguyên thay đổi, mặt hồ, rừng ven hồ và cảnh quan xung quanh bắt đầu được đặt trong một mối quan hệ rộng hơn với du lịch, nông nghiệp và đời sống cộng đồng.

cf16_1789545259.jpg
Hồ Trằm xã Nam Ba Đồn bao năm biết đến với chức năng tích nước, điều tiết nguồn nước và phục vụ sản xuất nông nghiệp, nay thêm nhiệm vụ phục vụ du lịch...

Không chỉ giữ nước cho đồng ruộng, Hồ Trằm có thể trở thành điểm khởi đầu cho một chuỗi giá trị mới, nơi mặt nước kết nối với cảnh quan, vùng sản xuất và những dịch vụ do cộng đồng cung cấp. Một du khách đến đây không chỉ tạo ra doanh thu từ hoạt động tham quan, mà còn có thể dùng một bữa ăn, uống một ly cà phê, mua sản phẩm địa phương, tìm hiểu vùng sản xuất nông nghiệp hoặc tiếp tục hành trình đến những điểm đến khác. Dòng khách vì thế có thể trở thành một dòng chảy kinh tế, lan từ mặt hồ đến những cánh đồng, khu vườn và từng hộ dân.

cf19_1789545267.jpg
Du khách tham gia trải nghiệm du lịch ở hồ Trằm

Ông Đoàn Xuân Tiến, Chủ tịch Doangia Group, đơn vị khai thác Hồ Trằm, cho rằng lợi thế của nơi đây nằm ở sự hội tụ giữa mặt nước, cảnh quan sinh thái và không gian sản xuất nông nghiệp. Định hướng của doanh nghiệp không phải là xây dựng một khu du lịch bê tông hóa, mà hướng tới một hệ sinh thái du lịch xanh, trong đó thiên nhiên được bảo tồn, nông nghiệp được nâng tầm và người dân trở thành chủ thể hưởng lợi.

Thay vì đưa một mô hình du lịch áp đặt lên cảnh quan, cách tiếp cận này tìm cách phát huy những gì vốn đã có. Mặt nước tạo nên không gian trải nghiệm; nông nghiệp cung cấp sản vật và câu chuyện bản địa; cảnh quan tự nhiên tạo sức hấp dẫn; còn cộng đồng địa phương trở thành lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra giá trị. Khi các thành tố ấy được kết nối, Hồ Trằm không còn chỉ được nhìn như một công trình phục vụ sản xuất mà có thể trở thành một không gian phát triển đa giá trị.

Ông Trần Xuân Quang, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Nam Ba Đồn, cho rằng điều địa phương hướng đến không phải là biến Hồ Trằm thành một khu vui chơi đơn thuần mà là xây dựng một không gian phát triển dựa trên lợi thế tự nhiên. Theo ông, khi du lịch phát triển hài hòa với nông nghiệp, người dân sẽ có thêm cơ hội bán nông sản, kinh doanh dịch vụ, phát triển sản phẩm OCOP và tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị du lịch. Khi đó, lợi ích không chỉ thuộc về một doanh nghiệp hay một điểm đến mà lan tỏa đến cả cộng đồng.

Điều quan trọng là chức năng vốn có của hồ vẫn phải được giữ nguyên. Hồ tiếp tục tích nước, phục vụ sản xuất và điều hòa nguồn nước; những giá trị mới được cộng thêm trên nền giá trị cũ thay vì đánh đổi giá trị cũ để lấy một lợi ích trước mắt. Đó chính là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường được đặt ra trong định hướng phát triển vùng.

Giá trị lâu dài của Hồ Trằm vì thế không nằm trước hết ở những công trình có thể xây dựng thêm bên bờ hồ, mà ở chính màu xanh đang hiện hữu. Mặt nước càng trong, rừng ven hồ càng được bảo vệ, cảnh quan càng hài hòa thì sức hấp dẫn của điểm đến càng lớn; ngược lại, nếu không gian xanh bị thu hẹp, bê tông hóa quá mức hoặc mặt nước bị che khuất bởi công trình, chính yếu tố tạo nên bản sắc của hồ sẽ bị suy giảm.

Khi cà phê kể câu chuyện vùng đất

Ở phía Tây Quảng Trị, những đồi cà phê Khe Sanh đang mở ra một cách khác để nông nghiệp bước vào du lịch. Với khoảng 5.000 ha cà phê Arabica, sản lượng khoảng 12.000–15.000 tấn mỗi năm, đây không chỉ là một vùng sản xuất mà còn là không gian cảnh quan, văn hóa và lịch sử đặc biệt. Điều đáng chú ý là người làm du lịch không chỉ đưa du khách đến uống một ly cà phê, mà đưa họ về nơi hạt cà phê được sinh ra.

cfe_1789545329.jpg
Người làm du lịch không chỉ đưa du khách đến uống một ly cà phê, mà đưa họ về nơi hạt cà phê được sinh ra.

Từ cuối năm 2024, “Khe Sanh Coffee tour” từng bước hình thành chuỗi trải nghiệm từ trồng, chăm sóc, thu hái, chế biến đến thưởng thức cà phê, đồng thời kết nối các trang trại, cơ sở sản xuất và những điểm du lịch cộng đồng. Đến cuối tháng 2/2026, sản phẩm đã tổ chức được 25 tour trải nghiệm.

cf2_1789545337.jpg
“Khe Sanh Coffee tour” từng bước hình thành chuỗi trải nghiệm từ trồng, chăm sóc, thu hái, chế biến đến thưởng thức cà phê, đồng thời kết nối các trang trại, cơ sở sản xuất và những điểm du lịch cộng đồng.

Một hành trình có thể bắt đầu từ những đồi cà phê ở Hướng Phùng, Khe Sanh nơi du khách trực tiếp tìm hiểu quá trình sản xuất, sau đó trải nghiệm không gian văn hóa cộng đồng, thưởng thức ẩm thực của đồng bào Bru - Vân Kiều, rồi trở lại Khe Sanh để nghe câu chuyện về lịch sử vùng đất và thương hiệu cà phê.

Bà Nguyễn Hồng Phương - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị chia sẻ: "Trước đây, người trồng cà phê chủ yếu bán sản phẩm thô, giá trị gia tăng còn hạn chế. Khi du lịch được kết nối với vùng nguyên liệu, người dân có thêm cơ hội bán sản phẩm trực tiếp, tham gia dịch vụ, đón khách, hướng dẫn trải nghiệm, phục vụ ẩm thực và cung cấp các sản phẩm liên quan. Cùng một diện tích đất, vì thế, có thể tạo ra nhiều nguồn thu hơn; quan trọng hơn, người trẻ có thêm cơ hội làm việc tại quê nhà thay vì phải rời địa phương tìm việc. Một hạt cà phê vì thế không còn chỉ được tính bằng giá bán của một kilogram nông sản. Nó mang theo câu chuyện của đất, khí hậu, người trồng, phương thức canh tác, văn hóa bản địa và cả lịch sử Khe Sanh. Đó là cách gia tăng giá trị cho nông sản bằng du lịch, đồng thời mở rộng không gian kinh tế của một vùng sản xuất bằng các sản phẩm OCOP”

f11_1789545422.jpg
Bà Nguyễn Hồng Phương - Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị

 

Nhìn từ Bồng Lai, Hồ Trằm và Khe Sanh, những định hướng ấy không phải là câu chuyện thực tế, một thửa ruộng được giữ lại để vừa sản xuất vừa đón khách; một mặt hồ được bảo vệ để vừa phục vụ nông nghiệp vừa tạo giá trị du lịch; một vùng cà phê được nâng chất lượng để không chỉ bán hạt mà còn bán trải nghiệm và câu chuyện của vùng đất. Đây chính là điểm cần được nhìn rõ hơn khi đặt những mô hình cụ thể của Quảng Trị trong tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW.

Ông Hồ Văn Hoan - Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nêu ý kiến: Phát triển không chỉ nhằm tạo ra những con số tăng trưởng, mà hướng tới một mô hình trong đó tài nguyên được sử dụng hiệu quả, môi trường được bảo vệ, các giá trị văn hóa và sinh thái được phát huy, còn đời sống người dân được nâng lên, một người nông dân có thể trở thành người làm du lịch mà không nhất thiết phải bỏ ruộng. Một hộ gia đình có thể làm homestay nhưng vẫn duy trì vườn, ao, chuồng trại. Một người trồng cà phê có thể vừa bán hạt vừa đón khách trải nghiệm. Một người dân bản địa có thể trở thành hướng dẫn viên, người nấu ăn, người kể chuyện văn hóa. Một cánh đồng được giữ lại vì người nông dân có thể kiếm thêm từ trải nghiệm, khu vườn được chăm sóc tốt hơn vì có du khách đến, hay vùng cà phê được nâng cao chất lượng vì sản phẩm không chỉ bán cho thương lái mà còn được kể câu chuyện trực tiếp với người tiêu dùng...

hoan_1789563862.jpg
Ông Hồ Văn Hoan - Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch.

 

Người dân làm giàu trên vùng đất của mình

Phong Nha có hang động, nhưng phía sau hang động là những cánh đồng Bồng Lai, những khu vườn, trang trại và làng quê. Hồ Trằm có mặt nước, nhưng phía sau mặt nước là rừng, nông nghiệp và những cộng đồng sống cùng tài nguyên.

f12_1789545350.jpg
Khi người dân biết kết nối, địa phương hỗ trợ thì những giá trị ấy sẽ không tồn tại như những mảnh ghép rời rạc mà có thể trở thành một hệ sinh thái du lịch rộng hơn

Khe Sanh có cà phê, nhưng phía sau một hạt cà phê là đất đai, người trồng, văn hóa bản địa và một câu chuyện lịch sử đặc biệt... và còn nhiều địa danh khác ở Quảng Trị, khi người dân biết kết nối, địa phương hỗ trợ thì những giá trị ấy sẽ không tồn tại như những mảnh ghép rời rạc mà có thể trở thành một hệ sinh thái du lịch rộng hơn, nơi mỗi điểm đến bổ trợ cho điểm đến khác, mỗi sản phẩm mở ra thêm một cơ hội tiêu dùng và mỗi dòng khách tạo ra nhiều dòng thu nhập cho cộng đồng. Cách tổ chức ấy vừa có thể kéo dài thời gian lưu trú, mở rộng mức chi tiêu, vừa quan trọng hơn là mở rộng số người được hưởng lợi từ một chuyến đi.

Theo ông Phạm Hải Quỳnh - Chủ tịch Viện Du lịch phát triển châu Á: Một điểm đến có thể được tạo dựng bằng những công trình, nhưng một điểm đến xanh chỉ có thể tồn tại lâu dài khi cộng đồng nhìn thấy tương lai của mình trong đó. Người dân sẽ có thêm lý do để giữ ruộng khi ruộng không chỉ tạo ra hạt lúa mà còn tạo ra trải nghiệm; họ có thêm lý do để giữ vườn khi khu vườn không chỉ cho trái mà còn mang lại thu nhập từ du khách. Cùng với đó, cộng đồng sẽ có thêm lý do để bảo vệ mặt hồ, cánh rừng, dòng sông và cảnh quan khi những tài nguyên ấy thực sự tạo ra giá trị cho cuộc sống. Đó cũng là lúc quan điểm phát triển bền vững từ tầm nhìn vùng được cụ thể hóa thành một cách làm ở cơ sở: không tách rời tăng trưởng khỏi bảo tồn, không tách rời du lịch khỏi nông nghiệp và cũng không tách rời phát triển điểm đến khỏi sinh kế của người dân.”

cf110_1789545344.jpg
Ông Phạm Hải Quỳnh - Chủ tịch Viện phát triển du lịch châu Á.

 

Từ Bồng Lai đến Hồ Trằm, từ những cánh đồng, khu vườn đến những đồi cà phê Khe Sanh, Quảng Trị đang đứng trước cơ hội mở rộng cách nhìn về du lịch: không chỉ đưa khách đến với tài nguyên, mà tạo điều kiện để người dân cùng tạo ra giá trị từ tài nguyên ấy; không chỉ xây dựng thêm những điểm đến, mà hình thành những chuỗi giá trị gắn kết giữa thiên nhiên, sản xuất, văn hóa, dịch vụ và cộng đồng. Bởi một vùng đất di sản chỉ thực sự bền vững khi di sản được gìn giữ, thiên nhiên được tôn trọng, cộng đồng được hưởng lợi và người dân có thể nhìn thấy tương lai của mình ngay trên mảnh đất quê hương. 

Đinh Loan