Bài 3: Quảng Trị – Sản vật biển kể câu chuyện sinh kế
Quảng Trị – Kiến tạo cực tăng trưởng du lịch biển xanh từ Nghị quyết 20-NQ/TW:

Bài 3: Quảng Trị – Sản vật biển kể câu chuyện sinh kế

Thứ ba, 15/9/2026, 08:18 (GMT+7)
logo Biển cho người dân Quảng Trị những mẻ cá, con tôm, con mực, những sản vật theo mùa và cả những nghề đã được truyền qua nhiều thế hệ. Từ bến cá, nguyên liệu được đưa về làng, qua bàn tay người thợ rồi trở thành những chai nước mắm, sản phẩm hải sản, món ăn mang hương vị riêng của vùng biển. Nhiều sản vật nay được nâng tầm thành sản phẩm OCOP, đi xa hơn khỏi gian bếp và thị trường địa phương.
ca-3_1785323678.jpg
Sản vật biển tạo ra nguồn thu nhập, ổn định sinh kế cho người dân...

Phía sau mỗi sản phẩm vẫn là câu chuyện của biển, của làng nghề và những con người đang sống bằng nghề. Nếu được kết nối với không gian làng chài, chợ cá, cơ sở sản xuất và bữa ăn địa phương, những sản vật ấy còn có thể trở thành một phần trải nghiệm, giúp du khách hiểu hơn về vùng biển Quảng Trị và mang theo một phần hương vị nơi đây sau hành trình.

Từ sản vật của biển đến sản phẩm có thương hiệu

Ở Nam Trạch, nghề làm nước mắm được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Trước đây, sản phẩm chủ yếu tiêu thụ quanh vùng, được đựng trong những vật dụng quen thuộc của nghề truyền thống, chưa có thương hiệu rõ ràng và khó tiếp cận những thị trường lớn. Sự thay đổi bắt đầu khi người làm nghề từng bước tiếp cận các yêu cầu mới về kỹ thuật sản xuất, vệ sinh an toàn thực phẩm, bao bì và xây dựng thương hiệu.

Năm 2022, nước mắm Nhân Nam được công nhận OCOP 3 sao cấp tỉnh, đánh dấu bước chuyển đáng kể từ một sản phẩm phục vụ nhu cầu địa phương thành hàng hóa có nhận diện trên thị trường. Mỗi năm, hợp tác xã sản xuất hơn 25.000 lít nước mắm, cùng với cá khô, mắm ruốc và những sản phẩm chế biến khác. Nghề truyền thống tạo thu nhập cho nhiều hộ dân, trong đó có những hộ đạt trên 100 triệu đồng mỗi năm.

Đằng sau những con số ấy là cả một chuỗi công việc nối tiếp nhau, nguồn cá được thu mua từ biển, rồi qua các công đoạn chế biến, đóng chai, vận chuyển, phân phối trước khi đến tay người tiêu dùng. Một sản vật vì thế không còn kết thúc giá trị ngay tại bến cá; qua chế biến và xây dựng thương hiệu, nó mở thêm những công việc và nguồn thu nhập mới cho cộng đồng.

Câu chuyện ở Cửa Tùng cũng cho thấy một hướng đi tương tự, hơn hai thập kỷ gắn bó với nghề, anh Lê Thanh Tùng vừa giữ phương pháp làm mắm truyền thống, vừa từng bước thay đổi cách tổ chức sản xuất để phù hợp với thị trường. Chứng nhận OCOP trở thành một bước đệm giúp nước mắm Tùng Vân mở rộng thị trường, đồng thời tạo đầu ra ổn định cho khoảng 200 tấn cá nguyên liệu mỗi năm và việc làm thường xuyên cho nhiều lao động địa phương. Những cơ sở như Tùng Vân vì thế không đơn thuần bán nước mắm. Họ mua nguyên liệu từ biển, giữ một nghề của làng, tạo việc làm và đưa hương vị địa phương đến những thị trường rộng hơn. Nếu nước mắm là một trong những sản phẩm tiêu biểu của nghề biển, các sản phẩm chế biến sâu đang mở rộng hơn nữa khả năng gia tăng giá trị cho nguồn nguyên liệu.

Hợp tác xã Sản xuất kinh doanh dịch vụ Chế biến thủy sản Long Tám là một trường hợp đáng chú ý. Từ một cơ sở sản xuất nhỏ, chị Đào Thị Tám từng bước đầu tư công nghệ, chuẩn hóa quy trình, xây dựng thương hiệu và phát triển các sản phẩm từ chính nguồn hải sản địa phương. Mỗi năm, cơ sở chế biến khoảng 250–300 tấn hải sản, đưa ra thị trường nước mắm, mắm ruốc, mực khô, mực rim ăn liền cùng nhiều sản phẩm chế biến khác. Một số sản phẩm đạt OCOP và sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh; hàng hóa được tiêu thụ tại nhiều tỉnh, thành trong nước và xuất khẩu sang Lào, Thái Lan.

ca-7_1785323699.jpg
Chị Đào Thị Tám trưng bày sản phẩm OCOP tại chương trình xúc tiến của tỉnh Quảng Trị

Với chị Đào Thị Tám, chất lượng sản phẩm trước hết bắt đầu từ nguyên liệu. Hải sản phải tươi, có nguồn gốc rõ ràng; quá trình chế biến phải bảo đảm an toàn nhưng vẫn giữ được hương vị vốn có. Kinh nghiệm của người làm nghề vì thế được đặt cạnh yêu cầu của công nghệ hiện đại để tạo ra sản phẩm vừa giữ được bản sắc vừa đáp ứng yêu cầu của thị trường. Đó cũng là bước chuyển mà nhiều làng nghề ven biển đang hướng tới: giá trị không chỉ nằm ở thứ biển cung cấp, mà còn nằm ở cách con người chế biến, bảo quản, xây dựng thương hiệu và đưa sản vật ấy đến người tiêu dùng.

ca_1785323685.jpg
Sản phẩm OCOP luôn được sự tin tưởng của khách hàng trong và ngoài tỉnh nhờ chất lượng và bao bì sản phẩm

Một con cá tươi bán tại cảng có một vòng đời giá trị nhất định. Nhưng nếu được chế biến thành nước mắm, mắm ruốc, cá khô, mực rim hay sản phẩm OCOP, vòng đời ấy được kéo dài hơn. Đến lúc hàng hóa có thương hiệu, bước vào hệ thống phân phối hoặc trở thành món quà du khách mang về, giá trị tiếp tục được mở rộng.

Điểm đáng chú ý của những sản phẩm OCOP ven biển không nằm riêng ở chất lượng hay bao bì. Điều đáng kể hơn là mỗi sản phẩm đều có khả năng mở ra một câu chuyện về nơi nó được sinh ra. Du khách đến một làng biển không chỉ tìm kiếm một bữa hải sản. Họ có thể muốn biết con cá từ đâu đến, nước mắm được làm như thế nào, nghề truyền thống đã tồn tại bao lâu, ai là người giữ nghề và những sản phẩm quen thuộc trong căn bếp địa phương đã được thay đổi ra sao để có thể bước vào thị trường hôm nay. Từ nhu cầu ấy, làng nghề có thể mở thêm một cánh cửa khác cho du lịch.

Một cơ sở nước mắm có thể trở thành điểm dừng trong hành trình khám phá làng biển. Du khách được nhìn thấy những thùng ủ chượp, nghe người làm nghề kể về cách chọn cá, tìm hiểu phương pháp làm mắm, nếm thử sản phẩm rồi lựa chọn một chai nước mắm mang về. Gói mực khô, hũ mắm ruốc hay sản phẩm chế biến từ cá cũng vì thế có thêm một lớp ý nghĩa: đó là món quà gắn với nơi du khách vừa đi qua.

lo4_1779617638.jpg
Mỗi sản phẩm làng nghề đều có câu chuyện riêng và sản vật riêng.( Ảnh minh họa) 

Theo anh Bảo Nam, hướng dẫn viên du lịch, các sản phẩm OCOP Quảng Trị ngày càng nhận được sự tin tưởng của du khách nhờ chất lượng được nâng lên, mẫu mã và bao bì ngày càng chuyên nghiệp. Trong những chuyến đi, nhiều du khách chủ động tìm mua các mặt hàng OCOP của địa phương.

Sự quan tâm ấy cho thấy sản phẩm địa phương đang dần trở thành một điểm chạm trong hành trình của du khách. Họ đến Quảng Trị, thưởng thức món ăn, tìm hiểu vùng đất rồi lựa chọn một sản phẩm mang về. Câu chuyện của chuyến đi nhờ vậy không kết thúc lúc rời khỏi điểm đến. Chị Quyên, một du khách đến từ Hà Nội, cũng đánh giá cao các sản phẩm đặc trưng vùng biển Quảng Trị, đặc biệt là những mặt hàng OCOP. Với chị, đây là những sản phẩm mang hương vị riêng của địa phương và là lựa chọn đáng chú ý sau mỗi chuyến đi.

"Đến nay, Quảng Trị có 295 sản phẩm OCOP được công nhận, gồm 3 sản phẩm đạt 5 sao, 29 sản phẩm 4 sao và 263 sản phẩm 3 sao. Từ những sản phẩm nông nghiệp, dược liệu đến thực phẩm chế biến, đặc sản vùng miền, danh mục OCOP ngày càng đa dạng hơn, tạo thêm nguồn hàng đặc trưng để đưa vào các điểm bán, cơ sở lưu trú, nhà hàng và hành trình trải nghiệm của du khách.

Với du lịch, mỗi sản phẩm OCOP vì thế có thể trở thành một món quà của điểm đến. Du khách sau khi thưởng thức một món ăn, đi qua một làng nghề hay trải nghiệm đời sống vùng biển có thêm nhiều lựa chọn để mang về: một chai nước mắm, gói mực khô, hũ mắm ruốc hay một sản phẩm đặc trưng của vùng đất. Món quà ấy không chỉ đáp ứng nhu cầu mua sắm sau chuyến đi, mà còn giúp du khách lưu giữ hương vị, ký ức và câu chuyện về nơi mình đã đến.

Khi sản phẩm địa phương được đầu tư về chất lượng, bao bì, nhận diện và câu chuyện, quà tặng du lịch cũng không còn là phần phụ của hành trình. Nó trở thành một điểm chạm khác giữa du khách với điểm đến, đồng thời mở thêm một kênh tiêu thụ cho sản phẩm và tạo thêm giá trị cho cộng đồng sản xuất", ông Trần Đình Hiệp Phó giám đốc sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị chia sẻ.

bien-7_1786357687.jpg
Sản phẩm làng nghề nhờ những mẻ cá tươi ngon...

Từ góc nhìn của du khách, một chai nước mắm hay gói hải sản có thể là món quà, nhưng nếu phía sau món quà ấy có câu chuyện về vùng biển, về người làm nghề và nơi sản phẩm được tạo ra, giá trị của nó sẽ khác. Du lịch đưa du khách đến nơi sản phẩm được sinh ra, còn sản phẩm giúp câu chuyện của điểm đến theo du khách trở về nhà. Đây cũng là khoảng trống mà các làng nghề ven biển có thể khai thác tốt hơn. Thay vì chỉ đưa sản phẩm đến các cửa hàng bán đặc sản, có thể kết nối cơ sở sản xuất với tour, điểm tham quan, nhà hàng, homestay và các không gian trải nghiệm. Một chuyến đi đến làng biển vì thế có thể bắt đầu từ bến cá, đi qua nơi chế biến, dừng lại ở một bữa ăn địa phương rồi kết thúc bằng việc du khách lựa chọn sản phẩm OCOP mang về.

Theo ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị, chương trình OCOP không chỉ giúp chuẩn hóa sản phẩm mà còn tạo sự lan tỏa trong khu vực nông thôn. Các chủ thể ngày càng quan tâm hơn đến giá trị của tài nguyên bản địa, đầu tư nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và liên kết sản xuất theo hướng bền vững. Qua đó, sản phẩm đặc trưng được gia tăng giá trị, tạo việc làm, nâng thu nhập và hình thành những chủ thể kinh tế có khả năng phát triển ngay trên quê hương mình. Nhìn theo hướng ấy, OCOP không nên dừng ở câu chuyện xếp hạng hay chứng nhận. Quan trọng hơn, chương trình đang góp phần thay đổi cách người dân nhìn về những sản vật vốn đã rất quen thuộc trong đời sống. Biển cung cấp nguyên liệu; con người tạo nên sản phẩm; thương hiệu giúp sản phẩm có chỗ đứng; còn du lịch có thể đưa sản phẩm trở lại với chính không gian đã làm nên giá trị của nó.

Giữ nguồn nguyên liệu - giữ tương lai của làng nghề

Thị trường rộng hơn cũng đồng nghĩa với những yêu cầu cao hơn, muốn một sản phẩm từ làng biển đi xa, chất lượng nguyên liệu là điều kiện đầu tiên nhưng chưa đủ. Câu chuyện thương hiệu, quy trình sản xuất, bao bì, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng tổ chức sản xuất đều trở thành những yếu tố quyết định, đây cũng là điểm mà nhiều cơ sở chế biến thủy sản truyền thống đang gặp khó.

Anh Lê Thanh Tùng, chủ cơ sở nước mắm Tùng Vân, cho rằng một trong những trăn trở hiện nay là địa phương chưa có cụm công nghiệp hoặc khu sản xuất tập trung dành cho chế biến thủy sản. Việc sản xuất còn xen kẽ trong khu dân cư khiến các cơ sở khó mở rộng quy mô, nhất là với những công đoạn như ủ chượp cần không gian phù hợp. Nhu cầu về mặt bằng sản xuất vì thế không chỉ là câu chuyện của một cơ sở, đó là điều kiện để nghề truyền thống có thể bước sang quy mô hàng hóa mà vẫn bảo đảm môi trường, an toàn sản xuất và khả năng kiểm soát chất lượng.

Từ phía quản lý, ông Phan Hoài Nam, Phó Giám đốc Sở Công Thương Quảng Trị, cho biết tỉnh đang tập trung hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, hoàn thiện hồ sơ pháp lý để tham gia thị trường xuất khẩu; đồng thời khuyến khích áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, tận dụng hiệu quả các FTA và đẩy mạnh xúc tiến thương mại. Những chính sách ấy sẽ phát huy hiệu quả hơn nếu được đặt trong một hệ sinh thái phát triển hoàn chỉnh, nơi làng nghề có không gian sản xuất, doanh nghiệp có khả năng đầu tư, sản phẩm có tiêu chuẩn, thương hiệu có thị trường và người dân được hưởng lợi từ chuỗi giá trị.

lo3_1779617646.jpg
Một con cá được khai thác có trách nhiệm tạo thu nhập cho ngư dân, đồng thời trở thành nguyên liệu cho cơ sở chế biến. (Ảnh: Thanh Loan)

Bởi một làng nghề không thể đi xa chỉ bằng sự khéo léo của người làm nghề, để sản vật từ biển trở thành hàng hóa có sức cạnh tranh, phía sau nó cần cả một hệ thống hỗ trợ và những mối liên kết đủ chặt. Có một mối liên hệ rất rõ giữa biển, làng nghề và sinh kế, nếu nguồn lợi thủy sản suy giảm, cơ sở chế biến sẽ thiếu nguyên liệu. Môi trường biển bị tổn thương cũng tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm và sức hấp dẫn của những điểm đến ven biển. Ngược lại, nguồn tài nguyên được khai thác hợp lý, môi trường được bảo vệ và sản vật được nâng cao giá trị sẽ tạo nền tảng cho nhiều sinh kế cùng phát triển.

Một con cá được khai thác có trách nhiệm tạo thu nhập cho ngư dân, đồng thời trở thành nguyên liệu cho cơ sở chế biến. Sản phẩm được làm ra an toàn, có thương hiệu sẽ tạo thêm giá trị cho người sản xuất. Đưa hàng hóa vào du lịch lại mở thêm một thị trường. Mỗi khâu nối tiếp nhau, giá trị của nguồn tài nguyên được kéo dài thêm một đoạn. Đó là lý do câu chuyện của làng nghề không thể tách khỏi câu chuyện bảo tồn biển.

Tinh thần của Nghị quyết số 20-NQ/TW về phát triển kinh tế biển cũng đặt vấn đề phát triển trong mối quan hệ với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát huy giá trị văn hóa, sinh kế của cộng đồng ven biển. Với cách tiếp cận ấy, biển được nhìn như một nguồn vốn tự nhiên cần được sử dụng tiết kiệm, gia tăng giá trị và gìn giữ cho tương lai.

Dọc vùng ven biển, những người làm nghề đang từng bước thay đổi cách ứng xử với sản vật mà biển trao tặng. Từ một con cá, họ tạo ra nước mắm; từ nguồn hải sản, hình thành thêm những sản phẩm chế biến; từ nghề truyền thống, xây dựng thương hiệu; từ thương hiệu, mở rộng thị trường và tạo thêm việc làm. Du lịch mở ra một hướng tiếp cận khác. khi khách đến làng biển, sản phẩm có thể trở thành một phần của trải nghiệm; lúc rời đi, chai nước mắm, gói mực khô, hũ mắm ruốc hay món đặc sản mang về tiếp tục kể câu chuyện về nơi họ vừa đến. Giá trị vì thế không nằm ở một sản phẩm riêng lẻ mà hình thành dọc theo cả hành trình: từ biển đến bến cá, từ bến cá về làng nghề, từ làng nghề ra thị trường và từ thị trường trở lại cộng đồng.

c-3_1779618831.jpg
Du lịch mở ra một hướng tiếp cận khác, khi khách đến làng biển, sản phẩm có thể trở thành một phần của trải nghiệm...

Cách làm ấy mở ra một tư duy khác về kinh tế biển, thay vì chỉ quan tâm khai thác được bao nhiêu từ biển, có thể đặt câu hỏi: từ nguồn tài nguyên ấy, cộng đồng tạo ra giá trị và bao nhiêu sinh kế... Một chai nước mắm, một gói mực khô hay một sản phẩm OCOP có thể bắt đầu từ một chuyến biển, nhưng hành trình của nó không nhất thiết dừng lại ở bến cá. Khi được đặt vào không gian làng nghề, trong một bữa ăn địa phương hay trên hành trình trải nghiệm của du khách, sản vật ấy trở thành một phần câu chuyện của điểm đến. Du khách mang sản phẩm về nhà, còn câu chuyện về biển Quảng Trị tiếp tục được kể ở một nơi khác.

Đó có lẽ là giá trị, sự kết nối giữa OCOP và du lịch có thể tạo ra: Biến sản vật thành trải nghiệm, biến trải nghiệm thành ký ức và từ ký ức mở ra thêm thị trường cho chính cộng đồng đã làm nên sản phẩm.

Từ góc nhìn quản lý du lịch, ông Đặng Đông Hà, Phó Giám đốc Sở Du lịch Quảng Trị, cho rằng: "Giá trị của sản phẩm địa phương sẽ được nhân lên khi được đặt trong chính không gian văn hóa và sinh hoạt đã tạo ra nó. Du khách không chỉ mua một sản phẩm mang về, mà còn có nhu cầu được biết sản phẩm ấy được làm ra như thế nào, ai là người làm, nghề ấy gắn với cộng đồng ra sao. Vì vậy, việc kết nối sản phẩm đặc trưng với các điểm đến, làng nghề, ẩm thực và trải nghiệm cộng đồng sẽ giúp kéo dài hành trình của du khách, đồng thời tạo thêm cơ hội để người dân tham gia, không gian lựa chọn ấy đang rộng dần cùng với sự phát triển của chương trình OCOP và hưởng lợi từ hoạt động du lịch".

 

Đinh Loan