Trong bối cảnh Quảng Trị đang từng bước khẳng định vai trò là cực tăng trưởng mới về kinh tế biển của khu vực Bắc Trung Bộ, yêu cầu đặt ra không chỉ là khai thác hiệu quả tiềm năng từ biển mà quan trọng hơn là xây dựng mô hình phát triển dựa trên quản trị tài nguyên hiện đại, bảo vệ hệ sinh thái và nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu. Từ thực tiễn đó, các vấn đề như chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), phục hồi nguồn lợi thủy sản và tổ chức không gian phát triển ven biển theo hướng xanh, bền vững đang trở thành những trụ cột trong chiến lược phát triển của tỉnh. Phóng viên (PV) Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Hữu Vinh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị, về các định hướng, giải pháp và cách tiếp cận dài hạn nhằm hài hòa giữa tăng trưởng và bảo vệ tài nguyên biển trong giai đoạn mới.
PV: Trong bối cảnh Quảng Trị đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đa ngành, xin ông cho biết Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh (Sở) sẽ tham mưu những giải pháp gì nhằm đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường biển, đặc biệt tại các khu vực ven bờ đang chịu áp lực ngày càng lớn?
Ông Nguyễn Hữu Vinh: Quảng Trị là địa phương ven biển có vị trí chiến lược đặc biệt trong không gian phát triển vùng Bắc Trung Bộ. Với đường bờ biển dài, hệ sinh thái đa dạng, cùng hệ thống kết nối hạ tầng liên vùng đang được đầu tư mạnh như cảng biển, hành lang kinh tế Đông – Tây, các tuyến quốc lộ và trục logistics ven biển, tỉnh đang đứng trước thời cơ quan trọng để chuyển hóa tiềm năng biển thành động lực tăng trưởng mới.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận thẳng thắn rằng, phát triển kinh tế biển trong giai đoạn hiện nay không còn là câu chuyện “mở rộng không gian khai thác”, mà là bài toán quản trị tổng hợp tài nguyên trong điều kiện sức ép môi trường, biến đổi khí hậu và cạnh tranh không gian ngày càng gay gắt. Nếu không có công cụ quản lý đủ mạnh, không gian ven biển rất dễ rơi vào tình trạng phát triển nóng, manh mún, gây xung đột giữa các ngành và suy giảm hệ sinh thái.
Trong bối cảnh đó, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ quan điểm xuyên suốt: Phát triển kinh tế biển phải dựa trên nền tảng quản trị tài nguyên hiện đại, kiểm soát chặt chẽ sức chịu tải môi trường và tuyệt đối không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Trọng tâm đầu tiên là hoàn thiện thể chế và công cụ quy hoạch. Sở sẽ tham mưu tích hợp đồng bộ giữa quy hoạch không gian biển, quy hoạch vùng bờ và quy hoạch tỉnh theo hướng tiếp cận quản lý tổng hợp dựa trên hệ sinh thái. Trong đó, phân vùng rõ các khu vực bảo vệ nghiêm ngặt, khu vực hạn chế phát triển và khu vực phát triển kinh tế biển đa ngành, nhằm giảm xung đột sử dụng tài nguyên.
Thứ hai là tăng cường kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải vào môi trường biển. Các khu vực ven bờ, cửa sông, khu công nghiệp, khu du lịch và cảng biển sẽ được giám sát thường xuyên thông qua hệ thống quan trắc môi trường biển tự động, kết hợp kiểm tra, thanh tra định kỳ và đột xuất. Quan điểm là không hợp thức hóa các dự án gây áp lực môi trường vượt ngưỡng chịu tải.
Thứ ba là phục hồi và bảo vệ các hệ sinh thái biển quan trọng như rạn san hô, thảm cỏ biển, vùng đất ngập nước ven biển và rừng ngập mặn. Đây không chỉ là “lá chắn sinh thái” mà còn là nền tảng cho sinh kế bền vững của cộng đồng ven biển.
Thứ tư là thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế biển theo hướng xanh và tuần hoàn. Các lĩnh vực như nuôi biển công nghệ cao, du lịch sinh thái biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi sẽ được ưu tiên thu hút đầu tư, thay thế dần các phương thức khai thác tài nguyên truyền thống kém bền vững.
Cùng với đó là đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên biển, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ giám sát, cảnh báo sớm rủi ro môi trường và hỗ trợ ra quyết định chính sách.
PV: Hiện trạng suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ đã được ghi nhận trong thời gian qua. Theo đánh giá của Sở, đâu là nguyên nhân cốt lõi và những giải pháp trọng tâm nào đang được ưu tiên nhằm phục hồi hệ sinh thái biển một cách bền vững?
Ông Nguyễn Hữu Vinh: Suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ là xu thế đã được ghi nhận rõ rệt, không chỉ tại Quảng Trị mà trên phạm vi cả nước. Đây là hệ quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó có thể khái quát thành ba nhóm nguyên nhân chính.
Thứ nhất là áp lực khai thác vượt ngưỡng phục hồi của nguồn lợi. Cơ cấu nghề cá hiện nay vẫn thiên về khai thác ven bờ với tỷ trọng tàu nhỏ lớn, cường lực khai thác cao, trong khi năng lực quản lý hạn ngạch và kiểm soát sản lượng còn hạn chế. Điều này dẫn đến tình trạng khai thác vượt quá khả năng tái tạo tự nhiên của hệ sinh thái biển.
Thứ hai là các hình thức khai thác mang tính hủy diệt và khai thác chưa đúng quy định vẫn còn tồn tại ở một số khu vực, làm suy giảm nghiêm trọng trữ lượng và cấu trúc quần đàn thủy sản, ảnh hưởng trực tiếp đến đa dạng sinh học biển.
Thứ ba là sự suy thoái của các hệ sinh thái nền như rạn san hô, thảm cỏ biển và vùng sinh cư ven bờ do tác động cộng hưởng của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và phát triển hạ tầng ven biển thiếu kiểm soát trong quá khứ.
Trên cơ sở đó, quan điểm xuyên suốt của ngành là không thể phục hồi nguồn lợi thủy sản bằng các biện pháp đơn lẻ, mà phải dựa trên tiếp cận hệ sinh thái và quản trị khai thác theo sức chịu tải.
Các nhóm giải pháp trọng tâm đang được ưu tiên gồm: Siết chặt quản lý hoạt động khai thác, đặc biệt là kiểm soát cường lực khai thác ven bờ, xử lý nghiêm các hành vi khai thác tận diệt, đồng thời thực thi nghiêm các quy định về chống khai thác IUU; Phục hồi hệ sinh thái biển thông qua các chương trình thả rạn nhân tạo, phục hồi sinh cảnh, tái tạo nguồn lợi thủy sản và bảo vệ khu vực sinh sản, cư trú tự nhiên của các loài hải sản; Điều tra, đánh giá lại trữ lượng nguồn lợi thủy sản làm cơ sở khoa học để phân bổ hạn ngạch khai thác, tiến tới quản lý khai thác theo ngưỡng bền vững; Mở rộng mô hình đồng quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng, trao quyền nhiều hơn cho ngư dân trong giám sát, bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản.
Việc tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng giảm khai thác ven bờ, tăng khai thác xa bờ và phát triển mạnh nuôi biển công nghệ cao, coi đây là trụ cột thay thế cho khai thác tự nhiên.
PV: Trong công tác chống khai thác IUU, đâu là những khó khăn, “nút thắt” lớn nhất hiện nay của tỉnh và ngành đang tập trung tháo gỡ như thế nào?
Ông Nguyễn Hữu Vinh: Chống khai thác IUU không chỉ là yêu cầu hội nhập quốc tế mà còn là mệnh lệnh quản trị đối với phát triển nghề cá bền vững. Đây là nhiệm vụ có tính hệ thống, liên quan trực tiếp đến quản lý nhà nước, sinh kế ngư dân và uy tín quốc gia trên thị trường thủy sản quốc tế.
Khó khăn lớn nhất hiện nay không nằm ở nhận thức chung, mà nằm ở cấu trúc đội tàu và hạ tầng quản lý nghề cá. Trước hết, tỷ lệ tàu cá nhỏ khai thác ven bờ còn lớn, phân tán, hoạt động linh hoạt trong ngày, gây khó khăn cho việc kiểm soát sản lượng, truy xuất nguồn gốc và giám sát hành trình. Đây là “điểm nghẽn” trong chuẩn hóa quản lý nghề cá hiện đại.
Việc tình trạng tàu cá chưa hoàn thiện đầy đủ thủ tục pháp lý, thiết bị giám sát hành trình chưa đồng bộ hoặc bị gián đoạn tín hiệu vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến tính liên tục của dữ liệu giám sát.
Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở dữ liệu nghề cá còn phân tán, thiếu liên thông giữa các nền tảng, gây khó khăn trong quản lý tổng thể và phân tích dữ liệu phục vụ điều hành. Hiện nay năng lực thực thi trên biển và tại cảng cá còn hạn chế so với yêu cầu kiểm soát một nghề cá đang chuyển đổi sang hướng quản lý hiện đại.
Để tháo gỡ, ngành đang tập trung vào ba nhóm giải pháp mang tính nền tảng. Một là siết chặt quản lý tàu cá theo hướng “không đủ điều kiện thì không cho hoạt động”, gắn trách nhiệm quản lý đến từng cấp cơ sở.
Hai là nâng cấp hệ thống giám sát nghề cá theo hướng tích hợp dữ liệu, tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu nghề cá thống nhất, kết nối giữa các hệ thống VMS, truy xuất nguồn gốc và quản lý cảng cá.
Ba là tăng cường phối hợp liên ngành giữa thủy sản, biên phòng, công an và chính quyền địa phương trong kiểm soát tàu cá, giám sát hành trình và xử lý vi phạm.
Cùng với đó là đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề phù hợp, giảm áp lực khai thác ven bờ và từng bước hình thành nghề cá có trách nhiệm.
PV: Trước tác động ngày càng rõ rệt của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, Sở đã xây dựng hoặc tham mưu những kịch bản, giải pháp nào để bảo vệ vùng nuôi trồng thủy sản ven biển?
Ông Nguyễn Hữu Vinh: Biến đổi khí hậu đang tác động ngày càng rõ nét đến toàn bộ chuỗi giá trị thủy sản ven biển, từ sản xuất giống, nuôi trồng đến khai thác và tiêu thụ. Các hiện tượng cực đoan như bão mạnh, nắng nóng kéo dài, xâm nhập mặn và thay đổi nhiệt độ nước biển đang làm gia tăng rủi ro sản xuất và đe dọa sinh kế của người dân ven biển.
Trước thực tế đó, quan điểm của ngành là không chỉ ứng phó bị động mà phải chuyển sang quản trị rủi ro chủ động, dựa trên kịch bản khí hậu và quy hoạch thích ứng dài hạn.
Các giải pháp trọng tâm gồm: Rà soát, điều chỉnh quy hoạch nuôi trồng thủy sản theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng, ưu tiên các khu vực có khả năng chống chịu tốt và hạ tầng đồng bộ; Đầu tư nâng cấp hạ tầng vùng nuôi, bao gồm hệ thống đê bao, cấp thoát nước, ao lắng và khu xử lý môi trường nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai; Phát triển mạnh các mô hình nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, nuôi sinh thái, nuôi tuần hoàn, giảm phát thải và thích ứng khí hậu; Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số về nuôi trồng thủy sản, tích hợp cảnh báo môi trường, dịch bệnh và thiên tai theo thời gian thực; Tăng cường phối hợp với cơ quan khí tượng thủy văn để cung cấp thông tin dự báo kịp thời, giúp người dân chủ động phương án sản xuất và phòng tránh rủi ro; Tổ chức quan trắc môi trường vùng nuôi theo hướng thường xuyên, liên tục, coi phòng bệnh và phòng rủi ro là giải pháp cốt lõi thay vì xử lý hậu quả.
Trong giai đoạn phát triển mới, tư duy xuyên suốt của ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh là chuyển từ khai thác tài nguyên sang quản trị tài nguyên; từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng và bền vững.
Phát triển kinh tế biển không chỉ là khai thác tiềm năng, mà là năng lực giữ gìn và gia tăng giá trị của biển theo thời gian. Khi tài nguyên biển được quản trị hiệu quả, hệ sinh thái được phục hồi và nghề cá được tổ chức hiện đại, đó chính là nền tảng để hình thành một nền kinh tế biển xanh, có sức chống chịu cao và hội nhập sâu với quốc tế.
PV: Trân trọng cám ơn ông!