Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với hoạt động du lịch Việt Nam. Sự gia tăng nhiệt độ, thay đổi chế độ mưa, nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan làm suy giảm chất lượng môi trường sống, hư hại cơ sở hạ tầng, cảnh quan, tài nguyên du lịch,... Du lịch là ngành kinh tế quan trọng, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương. Việt Nam có tiềm năng lớn về du lịch biển, đảo, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và du lịch nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, sự phụ thuộc của hoạt động du lịch vào điều kiện tự nhiên và thời tiết khiến ngành này dễ bị tổn thương trước các tác động của BĐKH.
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo
Tác động của biến đổi khí hậu đến du lịch
Tác động đến tài nguyên, di sản văn hóa và cảnh quan du lịch: Việt Nam có hệ thống tài nguyên du lịch phong phú, bao gồm các di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh, hệ sinh thái biển, đảo, vùng núi và các khu du lịch sinh thái. Tuy nhiên, BĐKH đang tạo ra những nguy cơ đáng kể đối với sự bền vững của các tài nguyên này. Các di sản văn hóa, đặc biệt là những công trình kiến trúc nghệ thuật có tuổi thọ lâu năm và tình trạng kỹ thuật hạn chế, dễ bị tổn thương trước sự thay đổi của nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Những tác động này có thể làm suy giảm độ bền vật liệu, gây xuống cấp công trình và ảnh hưởng đến cảnh quan di sản. Nước biển dâng, bão, lũ lụt và thiên tai bất thường đe dọa nhiều di sản nằm tại khu vực ven biển, ven sông, miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long. Các di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận như Hội An, Huế và Mỹ Sơn cũng đứng trước nguy cơ chịu ảnh hưởng của các hiện tượng này. Tại khu vực miền núi, sạt lở đất và lũ quét có thể làm hư hại, vùi lấp hoặc cuốn trôi các công trình văn hóa, nhà cửa và cảnh quan du lịch. Hệ thống hạ tầng xung quanh các di sản cũng có thể bị ảnh hưởng, làm gia tăng chi phí bảo tồn, sửa chữa và duy tu.
Cảnh ngập lụt ở làng du lịch tốt nhất thế giới Tân Hóa (Quảng Trị) nhìn từ trên cao. Ảnh: Hoàng Phúc (báo Người lao động)
Biến đổi khí hậu không chỉ tác động đến di sản vật thể mà còn ảnh hưởng đến di sản văn hóa phi vật thể. Những thay đổi về môi trường sống, sinh kế và điều kiện xã hội có thể làm mai một các lễ hội, tập quán và hoạt động văn hóa truyền thống gắn với vùng biển, vùng sông nước. Trong một số trường hợp, biến động môi trường có thể thúc đẩy di cư, làm suy giảm khả năng duy trì đời sống văn hóa của cộng đồng địa phương.
Tác động đến hoạt động khai thác du lịch và cơ sở hạ tầng: Du lịch là ngành kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện tự nhiên và thời tiết. Các hoạt động tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí, thể thao biển và du lịch sinh thái phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, lượng mưa, gió, bão, thủy triều và chất lượng cảnh quan. Sự gia tăng nhiệt độ và các hiện tượng thời tiết bất thường có thể làm giảm tính hấp dẫn của một số điểm đến. Nhiệt độ tăng, mùa lạnh rút ngắn hoặc thay đổi mùa vụ có thể ảnh hưởng đến đặc điểm sinh thái và khả năng tổ chức các loại hình du lịch. Bão, lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất và ngập úng đô thị gây tác động nghiêm trọng đến cơ sở vật chất ngành du lịch, bao gồm khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng, bến cảng, tuyến giao thông và các công trình vui chơi, giải trí. Hậu quả có thể là gián đoạn hoạt động cung ứng dịch vụ, hủy chuyến, giảm lượng khách, gia tăng chi phí bảo trì và sửa chữa.
Tại Cảng tàu khách Quốc tế khu du lịch Tuần Châu (Quảng Ninh), thống kê có khoảng hơn 20 tàu du lịch bị chìm sau khi bão Yagi đổ bộ ngày 7 tháng 9 năm 2024. Ảnh: VNN
Đối với du lịch biển, đảo, nước biển dâng cùng với sóng, gió, triều cường và bão làm gia tăng nguy cơ ngập lụt, xói lở bờ biển và hư hại các công trình ven bờ. Các công trình như cảng du lịch, bến bãi, hệ thống giao thông ven biển, khu nghỉ dưỡng và khách sạn có thể phải tăng chi phí bảo vệ, gia cố, duy tu, thậm chí di dời hoặc ngừng khai thác. Những tác động này không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp du lịch mà còn tác động đến cộng đồng dân cư ven biển, việc làm, thu nhập và tính hấp dẫn của các điểm đến. Điển hình tại khu vực Bắc Bộ nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của bão nhiệt đới và thời tiết thất thường, BĐKH có thể làm thay đổi mùa vụ, gia tăng rủi ro và gây gián đoạn hoạt động du lịch. BĐKH tác động tới khai thác du lịch biển, đảo; điển hình khu vực Bắc Bộ kéo dài từ Móng Cái, Quảng Ninh đến Thanh Hóa,… Các điểm đến tiêu biểu của khu vực bao gồm Vịnh Hạ Long, Trà Cổ, Bãi Cháy, Cô Tô, Cát Bà, Sầm Sơn,… Sự đa dạng về địa hình ven biển, vũng, vịnh, bãi cát và hệ sinh thái tạo cơ sở phát triển các hoạt động du lịch phong phú. Hoạt động du lịch biển, đảo phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu. Mùa hè là thời điểm cao điểm do nhu cầu tắm biển, nghỉ dưỡng tăng cao. Ngược lại, mùa đông thường là mùa thấp điểm do ảnh hưởng của không khí lạnh và điều kiện thời tiết không thuận lợi cho hoạt động tắm biển. Nhiệt độ tăng làm thay đổi các điều kiện sinh thái biển, đảo, ảnh hưởng đến cảnh quan và tài nguyên phục vụ du lịch sinh thái, du lịch khám phá. Khi nhiệt độ vượt quá khả năng chịu đựng của một số hệ sinh thái, các hệ sinh thái san hô và thảm cỏ biển có thể bị suy thoái, làm giảm giá trị cảnh quan và sức hấp dẫn của điểm đến. Một số khu vực biển Bắc Bộ, hệ sinh thái san hô và thảm cỏ biển đã xuất hiện tình trạng tẩy trắng trong những năm gần đây. Nếu quá trình này tiếp tục diễn ra, các loại hình du lịch sinh thái, nghiên cứu và khám phá biển có thể bị ảnh hưởng.
Tác động đến hoạt động du lịch cộng đồng: BĐKH ảnh hưởng đến du lịch cộng đồng, các biến động về khí hậu và môi trường có thể làm thay đổi sinh kế, cảnh quan và các hoạt động văn hóa của người dân. Những cộng đồng phụ thuộc nhiều vào tài nguyên tự nhiên, dịch vụ lưu trú, ăn uống, khai thác hải sản hoặc các hoạt động trải nghiệm có nguy cơ chịu ảnh hưởng lớn hơn khi điều kiện môi trường biến động. Vì vậy, phát triển du lịch trong điều kiện BĐKH cần gắn với bảo vệ tài nguyên, duy trì sinh kế và nâng cao năng lực thích ứng của cộng đồng địa phương.
Tác động của lượng mưa và thay đổi chế độ thủy văn: Sự thay đổi lượng mưa tại khu vực ven biển có thể làm biến đổi điều kiện thủy văn, chất lượng môi trường và cảnh quan du lịch. Lượng mưa gia tăng ở vùng cửa sông có thể làm mở rộng vùng ngập triều, đặc biệt tại các khu vực hạ du hệ thống sông Thái Bình – Bạch Đằng, thuộc vùng ven biển Hải Phòng và Quảng Ninh. Trong mùa khô, một số nhánh sông và dòng sông tại khu vực có thể gặp khó khăn trong việc tiêu thoát nước ra biển, hình thành các khu vực nước tù đọng, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến cảnh quan. Điều này tác động tiêu cực đến hoạt động khai thác, kinh doanh du lịch. Nước biển dâng kết hợp với sóng, gió, triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan làm gia tăng nguy cơ ngập lụt và xói lở bờ biển. Các công trình du lịch ven biển như khu nghỉ dưỡng, khách sạn, nhà hàng, bến cảng và hệ thống giao thông có thể bị tổn thương. Sự xuất hiện bất thường, cường độ mạnh và tần suất dày đặc của bão, áp thấp nhiệt đới và triều cường có thể gây thiệt hại lớn đối với người dân, tài sản, cảnh quan và khu du lịch ven biển. Một số khu nghỉ dưỡng, resort, nhà hàng và khách sạn có thể phải di dời hoặc ngừng khai thác do tác động của nước biển dâng và xói lở. Những tác động này làm giảm tính hấp dẫn của điểm đến, ảnh hưởng đến số lượng khách du lịch, tăng chi phí đầu tư và bảo trì, đồng thời gây tổn thất đối với cộng đồng dân cư ven biển. Hoạt động du lịch biển, đảo phụ thuộc nhiều vào các yếu tố thời tiết như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, gió, bão và thủy triều. Khi các yếu tố này biến động bất thường, hoạt động du lịch có thể bị gián đoạn thông qua việc hủy chuyến, giảm lượng khách, hạn chế các hoạt động ngoài trời và ảnh hưởng đến công tác tổ chức cung ứng dịch vụ.
Giải pháp nâng cao năng lực thích ứng
Trong bối cảnh BĐKH, hệ thống y tế cần có phương án bảo đảm năng lực phục vụ trong điều kiện nắng nóng, rét đậm, bão, lũ lụt và thiên tai. Tại các khu du lịch, cần chú trọng công tác cảnh báo nguy cơ sốc nhiệt, bảo đảm nước sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm, sơ cứu và chăm sóc y tế ban đầu. Các cơ sở lưu trú, khu vui chơi và đơn vị tổ chức tour cần có phương án bảo vệ sức khỏe du khách, nhất là người cao tuổi, trẻ em và những người có bệnh nền.
Hệ thống thông tin, cảnh báo và truyền thông tới cộng đồng, doanh nghiệp và du khách cần được duy trì liên tục, không bị gián đoạn trong điều kiện thời tiết cực đoan. Các cơ quan quản lý cần thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng trang thiết bị cứu hộ, cứu nạn và tổ chức diễn tập các phương án ứng phó. Đặc biệt, cần xây dựng quy trình phối hợp giữa lực lượng phòng, chống thiên tai, chính quyền địa phương, doanh nghiệp du lịch và các đơn vị vận tải nhằm bảo đảm cứu hộ, cứu nạn kịp thời khi xảy ra sự cố.
Ngày 5/7/2026, Đặc khu Cô Tô đã phối hợp với các đơn vị vận tải tổ chức 10 chuyến tàu đưa hơn 1.700 du khách về đất liền sau bão Maysak suy yếu. Ảnh: TTXVN
Trong phát triển du lịch biển, đảo, các tỉnh ven biển cần xây dựng quy hoạch chi tiết, gắn với đánh giá rủi ro khí hậu, nước biển dâng, xói lở bờ biển và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Quy hoạch cần xác định rõ các khu vực phát triển du lịch, khu vực ưu tiên thu hút đầu tư, khu vực dành cho cộng đồng và các vùng cần bảo vệ.Việc phát triển du lịch cần bảo đảm hài hòa giữa khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn di sản và duy trì sinh kế của cộng đồng địa phương. Các kế hoạch phát triển du lịch cần có tầm nhìn dài hạn, tính hệ thống và khả năng điều chỉnh trước những biến động của khí hậu. Ưu tiên đầu tư và nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch có khả năng chống chịu với bão, lũ, ngập lụt, xói lở và nước biển dâng. Đặc biệt, cần quan tâm đến hệ thống cảng sông, cảng biển, khu neo đậu và nơi trú ẩn cho tàu thuyền du lịch.
Phát triển du lịch thích ứng với BĐKH không chỉ góp phần bảo đảm an toàn cho người dân và du khách mà còn tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội ổn định, bền vững, bảo tồn các giá trị văn hóa và khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch của Việt Nam.
Sau 15 năm triển khai Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu theo Quyết định số 1946/QĐ-TTg, Việt Nam không chỉ xử lý hàng trăm điểm ô nhiễm kéo dài nhiều thập kỷ, mà quan trọng hơn, đã từng bước chuyển đổi cách tiếp cận quản lý - từ xử lý tồn lưu sang quản trị môi trường đất dựa trên rủi ro, dữ liệu và mục tiêu phát triển bền vững.
Khối lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh tại các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn TP. Cần Thơ hiện lên tới hơn 404.000 tấn mỗi năm, trong khi chất thải nguy hại vượt 3.100 tấn. Mặc dù công tác thu gom, phân loại và xử lý cơ bản được thực hiện đúng quy định, nhưng việc thiếu các cơ sở xử lý đạt chuẩn tại địa phương và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đặt ra nhiều thách thức đối với mục tiêu phát triển công nghiệp xanh, bền vững. Những chỉ đạo mới của lãnh đạo thành phố được kỳ vọng sẽ góp phần tháo gỡ điểm nghẽn này, hướng tới xây dựng các KCN sạch, sinh thái trong giai đoạn tới.
Ngày 7/8, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Liên minh châu Âu (EU) và Cộng hòa Liên bang Đức chính thức khởi động Dự án "Hỗ trợ ngành lâm nghiệp Việt Nam của Liên minh châu Âu" nhằm góp phần bảo tồn, phục hồi và quản lý bền vững rừng tự nhiên của Việt Nam.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, cùng với việc hoàn thiện cơ chế quản lý, ngành chức năng TP. Cần Thơ tập trung kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, nâng cao hiệu quả quản lý chất thải và tăng cường trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong thực thi pháp luật về môi trường tạo nền tảng cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Nhằm giải quyết bài toán thiếu hụt vật liệu san lấp và bảo vệ môi trường, UBND TP. Hồ Chí Minh đã chỉ đạo khẩn trương nghiên cứu mô hình tái chế chất thải xây dựng và bùn nạo vét để tái sử dụng cho các công trình trọng điểm trên địa bàn.