Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Thông tư về định giá rừng

Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Thông tư về định giá rừng

Thứ tư, 29/7/2026, 07:43 (GMT+7)
logo Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT quy định phương pháp định giá rừng, hướng dẫn định khung giá rừng và phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon của rừng. Thông tư được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Lâm nghiệp, Luật Giá và Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý trong quản lý, sử dụng và phát huy giá trị tài nguyên rừng.
bao_1785118324.jpg
ảnh minh hoạ

Theo Thông tư, phạm vi điều chỉnh bao gồm ba nội dung chính: phương pháp định giá rừng; hướng dẫn xây dựng khung giá rừng thuộc sở hữu toàn dân; và phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon của rừng. Đối tượng áp dụng là cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư có hoạt động liên quan đến các nội dung nêu trên. Đồng thời, Thông tư cũng khuyến khích áp dụng đối với rừng sản xuất là rừng trồng thuộc sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư.

Đối với rừng tự nhiên, Thông tư quy định giá trị rừng được xác định trên cơ sở tổng hợp ba cấu phần gồm giá trị lâm sản, giá trị quyền sử dụng rừng và giá trị môi trường rừng. Trong đó, giá trị lâm sản được tính từ trữ lượng gỗ, củi và lâm sản ngoài gỗ; giá trị quyền sử dụng rừng được xác định trên cơ sở doanh thu, chi phí và thời gian quản lý, sử dụng rừng còn lại; còn giá trị môi trường rừng được tính theo hệ số điều chỉnh tương ứng với từng loại rừng như rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất.

Đối với rừng trồng, giá trị rừng được xác định từ tổng chi phí đầu tư tạo rừng, thu nhập dự kiến trong chu kỳ kinh doanh và giá trị môi trường rừng. Thông tư quy định rõ phương pháp tính toán các khoản chi phí, doanh thu, tỷ lệ chiết khấu, chu kỳ kinh doanh cũng như hệ số xác định giá trị môi trường đối với từng loại rừng trồng, tạo cơ sở thống nhất trong định giá trên phạm vi cả nước.

Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể việc xác định giá rừng trong các trường hợp cho thuê rừng; xác định giá trị rừng để bồi thường khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại đối với rừng, cháy rừng hoặc khi Nhà nước thu hồi rừng; xác định giá trị rừng phục vụ góp vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn nhà nước và làm căn cứ tính thuế, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.

Về khung giá rừng, Thông tư quy định việc xây dựng khung giá phải căn cứ kết quả điều tra hiện trạng rừng, trữ lượng lâm sản, giá lâm sản, điều kiện sinh trưởng, khả năng tạo thu nhập và các yếu tố liên quan. Trên cơ sở đó xác định giá tối thiểu, giá tối đa và khung giá đối với từng trạng thái, loại rừng. Căn cứ khung giá được ban hành và điều kiện thực tế tại địa phương, UBND cấp tỉnh quyết định giá rừng cụ thể và đơn giá bồi thường rừng trong từng trường hợp.

Một nội dung mới đáng chú ý của Thông tư là quy định phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng. Theo đó, mức chi trả được xác định theo hai phương pháp gồm phương pháp chi phí và phương pháp so sánh. Phương pháp chi phí được tính trên cơ sở chi phí xây dựng dự án các-bon rừng, chi phí hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng, hỗ trợ sinh kế, cùng các khoản thuế, phí, lệ phí liên quan. Phương pháp so sánh được thực hiện trên cơ sở tham chiếu các dự án các-bon rừng có điều kiện tương đồng. Kết quả xác định là căn cứ để đàm phán, giao dịch dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng theo quy định của pháp luật.

Việc ban hành Thông tư góp phần hoàn thiện hệ thống quy định về định giá rừng, bảo đảm thống nhất phương pháp xác định giá trị tài nguyên rừng trên phạm vi cả nước, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để triển khai hiệu quả cơ chế chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, thúc đẩy phát triển thị trường các-bon rừng và nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, phát triển rừng trong giai đoạn mới.

 

Hồng Minh