Chính phủ ban hành Nghị quyết  đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói

Chính phủ ban hành Nghị quyết đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói

Thứ bảy, 1/8/2026, 17:56 (GMT+7)
logo Ngày 31/7/2026, Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký ban hành Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Nghị quyết điều chỉnh, bổ sung một số quy định về nguyên tắc, hồ sơ, trình tự, thẩm quyền cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói tại Nghị định số 38/2026/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định 38).

Theo nghị quyết, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng theo nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm, giảm thời gian.

Điều này nhằm giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục hành chính, không phát sinh thủ tục hành chính mới, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, bảo đảm công khai, minh bạch, khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất, đóng gói sản phẩm cây trồng.

vungtrong-1783920170585765690682_1785548535.png
Khuyến khích tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết sản xuất hình thành vùng nguyên liệu tập trung để cấp mã số vùng trồng quy mô lớn

Việc thực hiện thủ tục hành chính về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải gắn với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, truy xuất nguồn gốc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đồng thời chỉ thực hiện tiền kiểm đối với trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Nghị quyết cũng khuyến khích tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết sản xuất hình thành vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn để cấp mã số vùng trồng.

Về hồ sơ, trình tự, thẩm quyền cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, khi người dân, doanh nghiệp có nhu cầu cấp mã vùng trồng chỉ cần nộp hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đến UBND xã (nơi sản xuất) thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia.

Trường hợp tổ chức, cá nhân đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số, trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, chủ tịch UBND xã tổ chức kiểm tra và ban hành thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Đồng thời phê duyệt ngay mã số đối với trường hợp nước nhập khẩu đồng ý để cơ quan có thẩm quyền Việt Nam tự phê duyệt.

Cả hai trường hợp nói trên nếu không cấp, UBND xã phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

Đối với trường hợp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải được nước nhập khẩu phê duyệt, cơ quan chuyên môn đầu mối cấp tỉnh tổng hợp, gửi danh sách về Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày có thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được danh sách, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, gửi nước nhập khẩu xem xét, phê duyệt. Trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu khác về thời gian gửi danh sách thì thực hiện theo yêu cầu của nước nhập khẩu.

Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 31/7 cho đến khi nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 38 có hiệu lực thi hành.

Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm chủ trì, phối hợp các bộ, ngành, địa phương có liên quan khẩn trương xây dựng hồ sơ nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 38 theo trình tự, thủ tục rút gọn và trình Chính phủ xem xét, ban hành trong tháng 9 năm 2026.

Lê Tâm