Chiều 13/7, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp chủ trì Hội thảo với một số đơn vị của Bộ và Sở NN&MT các tỉnh, thành phố về lấy ý kiến vào Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ Quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Phát biểu khai mạc hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, Nghị quyết này điều chỉnh một số quy định tại Nghị định số 38 ngày 24/01/2026 của Chính phủ quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói để đơn giản hóa thủ tục hành chính cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, Nghị quyết này sau khi được ban hành sẽ tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trong cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Trong đó, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình theo nguyên tắc giảm thời gian, giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục hành chính, không phát sinh thủ tục hành chính mới, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, bảo đảm công khai, minh bạch, khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất, đóng gói sản phẩm cây trồng.
Bên cạnh đó, thực hiện thủ tục hành chính về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải gắn với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, truy xuất nguồn gốc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ngoài ra, khuyến khích tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết sản xuất hình thành vùng nguyên liệu tập trung để cấp mã số vùng trồng quy mô lớn.
Thông tin về một số điểm lưu ý trong Dự thảo Nghị quyết, ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết, mã số vùng trồng theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Trồng trọt được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15 được cấp cho một loại cây trồng xác định theo vị trí của một hoặc nhiều thửa đất theo đề nghị của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ gia đình.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh phân công cơ quan chuyên môn về cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đảm bảo phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, trong đó xác định rõ cơ quan chuyên môn đầu mối cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về nhiệm vụ này tại địa phương.
Dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được quản lý tập trung trên Hệ thống xử lý nghiệp vụ và công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; được kết nối, chia sẻ với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các hệ thống cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật.
Đối với vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu, ngoài việc thực hiện quy định của Việt Nam còn phải đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu. Trường hợp đăng ký xuất khẩu, tổ chức, cá nhân thông báo bằng văn bản với cơ quan chuyên môn được giao về tên thị trường xuất khẩu dự kiến (sau đây gọi là thông báo) để thống nhất thời gian thực hiện hậu kiểm việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu. Trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan chuyên môn được giao phải trả lời kết quả cho tổ chức, cá nhân.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan chuyên môn được giao tổ chức hậu kiểm đối với mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã được cấp trong các trường hợp: đăng ký xuất khẩu theo yêu cầu của nước nhập khẩu trước khi gửi nước nhập khẩu phê duyệt hoặc phê duyệt đối với trường hợp nước nhập khẩu đồng ý để cơ quan có thẩm quyền Việt Nam tự phê duyệt; theo yêu cầu quản lý đảm bảo điều kiện kỹ thuật theo quy định.
Sau khi nghe ý kiến góp ý của các địa phương, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhất trí và yêu cầu cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo, để kịp trình Chính phủ ban hành vào 15/7. Theo Thứ trưởng “Nếu khu đất chưa có trong cơ sở dữ liệu, UBND cấp xã phải xác nhận vị trí và diện tích để làm căn cứ cấp mã. Đây không phải bổ sung thủ tục, mà nhằm bảo đảm mỗi mã số đều gắn với một vị trí sản xuất xác định, hạn chế tình trạng sai lệch thông tin hoặc khó truy xuất sau này".
Việc đổi mới cơ chế cấp mã số vùng trồng không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn phục vụ quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm an toàn thực phẩm cho cả thị trường trong nước lẫn thị trường xuất khẩu, Thứ trưởng chỉ đạo quy định về hậu kiểm phải cụ thể hơn (có biểu mẫu, biên bản, phương thức kiểm tra) để địa phương dễ thực hiện.
Thứ trưởng đặc biệt lưu ý đến thời hạn 10 ngày đối với hồ sơ đăng ký xuất khẩu. Theo Thứ trưởng, khoảng thời gian này không nhằm kéo dài thủ tục mà để cơ quan chuyên môn có đủ thời gian kiểm tra việc đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của từng thị trường. Nếu chỉ 1 vùng trồng không đáp ứng tiêu chuẩn nhưng vẫn được gửi sang nước nhập khẩu rồi bị trả lại, ảnh hưởng sẽ không dừng ở doanh nghiệp hay địa phương đó mà tác động đến uy tín của nông sản Việt.
Thứ trưởng đề nghị Sở NN&MT các địa phương coi đây là dịp xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu mã số vùng trồng trên toàn địa bàn. Các địa phương có thể triển khai một chiến dịch tương tự chiến dịch xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trước đây để hoàn thiện dữ liệu trong thời gian ngắn, tạo nền tảng cho quản lý lâu dài. Cùng với đó, là thúc đẩy liên kết sản xuất, hình thành hợp tác xã, tổ hợp tác và vùng nguyên liệu đủ lớn.
"Nếu mã số có diện tích nhỏ, sẽ khó tạo ra vùng nguyên liệu cạnh tranh", Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, khi hình thành các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn, địa phương vừa thuận lợi quản lý, vừa tạo đà xây dựng thương hiệu nông sản.