Chuyển đổi số ngành Nông nghiệp và Môi trường: Kết nối dữ liệu nâng chất lượng phục vụ

Chuyển đổi số ngành Nông nghiệp và Môi trường: Kết nối dữ liệu nâng chất lượng phục vụ

Thứ tư, 7/10/2026, 06:40 (GMT+7)
logo Kết nối dữ liệu đang tạo nền tảng cho đổi mới quản lý trong ngành Nông nghiệp và Môi trường. Từ kết quả đã đạt được trong 9 tháng qua, Bộ tiếp tục tập trung chuẩn hóa, cập nhật và tổ chức khai thác thông tin, hướng tới giải quyết thủ tục thuận tiện hơn cho người dân, doanh nghiệp.
chuyen-doi-so_1790829365.png
Kết nối, khai thác dữ liệu nông nghiệp và môi trường hướng tới phục vụ người dân, doanh nghiệp thuận tiện hơn. Ảnh minh họa

Dữ liệu về đất đai, sản xuất nông nghiệp, nghề cá, khí tượng thủy văn hay môi trường được hình thành từ nhiều hoạt động chuyên môn và tại nhiều địa phương. Khi được cập nhật, chuẩn hóa và chia sẻ phù hợp, nguồn thông tin này có thể hỗ trợ cơ quan quản lý theo dõi tình hình, đối chiếu hồ sơ và xử lý công việc trên cùng một cơ sở dữ liệu.

Theo báo cáo tại Hội nghị giao ban công tác quý III, đánh giá kết quả 9 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 của Cục Chuyển đổi số, về tình hình xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành Nông nghiệp và Môi trường, trọng tâm là cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, Bộ đang tập trung nâng cao chất lượng và khả năng khai thác dữ liệu sau khi thiết lập các kết nối ban đầu. Mục tiêu xuyên suốt là “đưa thông tin vào phục vụ chỉ đạo, điều hành và giải quyết thủ tục hành chính”.

12 cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã kết nối với Trung tâm Dữ liệu quốc gia, ghi dấu nỗ lực của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Cục Chuyển đổi số trong đưa dữ liệu vào phục vụ quản lý, hướng tới giảm giấy tờ và thuận tiện hơn cho người dân, doanh nghiệp.

Kết nối dữ liệu trên nhiều lĩnh vực

Cũng theo báo cáo của Cục Chuyển đổi số, Bộ được giao triển khai 25 cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin. Trong đó, 4 hệ thống thông tin đã đưa vào khai thác, sử dụng; 21 cơ sở dữ liệu đã được xây dựng và đang tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện. Các đơn vị chủ quản rà soát phạm vi, cấu trúc và bổ sung những thông tin cần thiết để đáp ứng yêu cầu chia sẻ, khai thác thống nhất.

Đối với nhóm nhiệm vụ thuộc Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW và các nghị quyết liên quan, Bộ đã hoàn thành kết nối, đồng bộ 12/12 cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành với Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Kết quả phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường với Bộ Công an được ghi nhận tại biên bản ngày 6/4/2026. Đây là kết quả kết nối của một nhóm nhiệm vụ cụ thể trong tổng số cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin được giao. Với 13 cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin còn lại thuộc nhiệm vụ tại Nghị quyết số 214/NQ-CP, hai Bộ đã xây dựng kế hoạch chi tiết để triển khai kết nối, đồng bộ trong năm 2026.

Phạm vi dữ liệu được chia sẻ đã mở rộng trên nhiều lĩnh vực. Đến ngày 23/9, báo cáo ghi nhận cơ sở dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo đã đồng bộ 661.822 bản ghi với Trung tâm Dữ liệu quốc gia; cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia Vnfishbase đồng bộ 84.387 bản ghi; cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn quốc gia đồng bộ 65.119 bản ghi. Các lĩnh vực viễn thám, môi trường và trồng trọt cũng đã có dữ liệu được đồng bộ.

Những kết quả này tạo điều kiện để thông tin chuyên ngành được chia sẻ giữa các hệ thống. Công việc tiếp theo là duy trì cập nhật, kiểm tra độ chính xác và xác định dữ liệu có thể sử dụng trong từng quy trình nghiệp vụ. Một bản ghi chỉ phát huy giá trị khi người có trách nhiệm có thể tra cứu, hiểu đúng nội dung và sử dụng phù hợp với công việc đang giải quyết. Vì vậy, Cục Chuyển đổi số xác định yêu cầu dữ liệu phải từng bước đáp ứng các tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Yêu cầu này gắn trách nhiệm xây dựng hệ thống với trách nhiệm duy trì thông tin. Dữ liệu cần được kiểm tra khi hình thành, bổ sung khi có thay đổi và cập nhật thường xuyên để phản ánh tình hình thực tế.

Đối với ngành có phạm vi quản lý rộng như Nông nghiệp và Môi trường, việc dùng chung dữ liệu còn cần sự phối hợp giữa cơ quan chuyên môn, đơn vị vận hành và địa phương. Cơ quan phụ trách lĩnh vực nắm nội dung nghiệp vụ; đơn vị vận hành bảo đảm hệ thống hoạt động; địa phương cập nhật những biến động phát sinh tại cơ sở. Sự phối hợp này là điều kiện để nguồn thông tin được duy trì liên tục và sử dụng lâu dài.

nam-8e34_1790829744.jpg
Chuyển đổi số mở thêm cơ hội phát triển kinh tế cho người dân, góp phần giảm nghèo bền vững. Ảnh: Sơn La

Dữ liệu đất đai được kết nối từ 34 địa phương

Trong quá trình xây dựng dữ liệu ngành Nông nghiệp và Môi trường, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là một trọng tâm. Bộ đã ban hành hướng dẫn kỹ thuật để các địa phương cập nhật, làm sạch và đồng bộ dữ liệu lên hệ thống Trung ương, phục vụ kết nối với Trung tâm Dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Theo báo cáo của Cục Chuyển đổi số, đến ngày 23/9/2026, cả 34 tỉnh, thành phố đã thực hiện kết nối, đồng bộ dữ liệu đất đai lên cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Tổng số đã đồng bộ là 61.564.720 thửa đất. Trong khối lượng dữ liệu này, 43.649.077 thửa đất đã được làm sạch theo tiêu chí áp dụng, chiếm 70,90% số thửa đất đã đồng bộ. Các địa phương tiếp tục rà soát, bổ sung thông tin và duy trì cập nhật để phục vụ khai thác, chia sẻ.

Kết quả trên cho thấy, dữ liệu đất đai đã được tập hợp trên phạm vi cả nước. Công việc chuẩn hóa giúp thông tin hình thành qua nhiều giai đoạn, trên những hệ thống khác nhau có thể được tiếp nhận và xử lý theo yêu cầu thống nhất. Khi các trường thông tin được đối chiếu đầy đủ, cơ quan quản lý có thêm căn cứ để tra cứu, kiểm tra hồ sơ và theo dõi biến động đất đai.

Trên cơ sở dữ liệu tiếp nhận từ địa phương, Bộ đã đồng bộ 14.230.397 thửa đất với Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đã đồng bộ 9.406.944 thửa đất và 8.436.444 giấy chứng nhận. Các số liệu này phản ánh những phạm vi kết nối khác nhau. Số thửa đất được địa phương đưa lên cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là kết quả tập hợp dữ liệu tại hệ thống của ngành; số đồng bộ với Trung tâm Dữ liệu quốc gia hoặc cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là kết quả chia sẻ tiếp sang hệ thống tương ứng. Theo dõi riêng từng phạm vi giúp xác định đúng tiến độ và phần thông tin có thể khai thác.

Trong thời gian tới, Bộ tiếp tục phối hợp với địa phương bổ sung dữ liệu, chuẩn hóa thông tin và cập nhật các biến động. Đối với dữ liệu đã làm sạch, việc duy trì cập nhật vẫn phải được thực hiện thường xuyên. Đây là công việc cần thiết để hồ sơ trên hệ thống phản ánh tình trạng thực tế, phục vụ đối chiếu và xử lý nghiệp vụ. Bộ cũng phối hợp với Bộ Công an hoàn thiện các trường thông tin trao đổi, đối soát dữ liệu và kiểm tra kết quả đồng bộ. Những bước này nhằm bảo đảm thông tin được chuyển đúng giữa các hệ thống và có thể sử dụng theo yêu cầu của từng cơ quan.

giam-giay-to-them-thuan-tien_1790830112.png
Ứng dụng công nghệ số hướng tới giảm giấy tờ, giúp người dân thuận tiện hơn khi thực hiện thủ tục hành chính. Ảnh minh hoạ

Hướng tới giảm giấy tờ, thuận tiện hơn khi làm thủ tục

Giá trị gần nhất của dữ liệu đối với người dân, doanh nghiệp nằm ở khả năng sử dụng thông tin đã có khi giải quyết công việc. Báo cáo của Cục Chuyển đổi số đã đưa ra và xác định, việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai phải gắn với giải quyết thủ tục hành chính, hướng tới giảm yêu cầu cung cấp lại thông tin.

Để thực hiện mục tiêu này, đơn vị quản lý dữ liệu và đơn vị giải quyết thủ tục cần cùng xác định những thông tin có thể tra cứu, đối chiếu, tái sử dụng. Sau đó, quy trình nghiệp vụ phải được hoàn thiện tương ứng để dữ liệu có thể trở thành căn cứ xử lý hồ sơ theo quy định. Chẳng hạn, với một thông tin đã có trong hệ thống, cơ quan giải quyết thủ tục cần xác định có thể tra cứu ổn định hay không, thông tin đã được cập nhật đến đâu và đáp ứng yêu cầu đối chiếu của thủ tục nào. Từ những nội dung cụ thể đó mới có cơ sở đề xuất giảm giấy tờ mà người dân phải nộp.

Báo cáo của Cục Chuyển đổi số cũng đưa ra lưu ý, việc cắt giảm thành phần hồ sơ phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, khả năng tra cứu và quy trình nghiệp vụ. Vì vậy, kết quả kết nối tạo nền tảng quan trọng, còn lợi ích trong từng thủ tục cần được xác định qua khả năng khai thác thực tế. Cách triển khai này giúp gắn nhiệm vụ chuyển đổi số với những thay đổi cụ thể trong quá trình phục vụ người dân.

Đối với cơ sở dữ liệu ngành nói chung, Cục Chuyển đổi số đề xuất tiếp tục hoàn thiện 21 cơ sở dữ liệu đã xây dựng, triển khai kết nối các hệ thống còn lại theo kế hoạch và xác định rõ trách nhiệm cập nhật của từng đơn vị chủ quản. Mỗi cơ sở dữ liệu cần có đầu mối chịu trách nhiệm về chất lượng, tần suất cập nhật và kiểm tra thông tin sau kết nối.

Công tác theo dõi tiến độ cũng được đặt ra theo từng cơ sở dữ liệu, từng địa phương và từng kết quả cụ thể: đã xây dựng, đã kết nối, đã đồng bộ, đã làm sạch và đã khai thác trong nghiệp vụ. Việc theo dõi như vậy giúp cơ quan quản lý xác định đúng phần việc cần tập trung, đồng thời ưu tiên những thông tin phục vụ trực tiếp nhu cầu giải quyết thủ tục.

Từ kết quả kết nối trên nhiều lĩnh vực và sự tham gia của cả 34 địa phương trong đồng bộ dữ liệu đất đai, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã có nền tảng để tiếp tục mở rộng ứng dụng dữ liệu. Công việc phía trước là duy trì cập nhật, hoàn thiện khả năng chia sẻ và đưa thông tin vào từng quy trình chuyên môn.

Những kết quả này ghi nhận sự phối hợp của các đơn vị thuộc Bộ, Bộ Công an và địa phương. Tiếp tục phát huy sự phối hợp ấy, gắn trách nhiệm cập nhật với nhu cầu sử dụng dữ liệu sẽ giúp chuyển đổi số phục vụ thiết thực hơn cho quản lý ngành và từng bước mang lại sự thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp.

Từ kết nối dữ liệu đến đơn giản hóa thủ tục, chuyển đổi số của ngành Nông nghiệp và Môi trường đang được triển khai bằng những công việc cụ thể. Kết quả bước đầu ghi nhận nỗ lực của Bộ, Cục Chuyển đổi số và các đơn vị trong xây dựng, kết nối, khai thác dữ liệu. Tiếp tục đưa dữ liệu vào giải quyết công việc hằng ngày sẽ là bước đi thiết thực để những nỗ lực ấy mang lại thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp: bớt giấy tờ, bớt thời gian đi lại và dễ tiếp cận dịch vụ công hơn.

 

Hồng Minh