Công tác dự báo phục vụ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân

Công tác dự báo phục vụ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân

Thứ năm, 15/10/2026, 07:39 (GMT+7)
logo Trong quá trình phát triển, ngành Khí tượng Thủy văn (KTTV) đã từng bước mở rộng phạm vi phục vụ từ sản xuất, phòng chống thiên tai (PCTT) đến các lĩnh vực chuyên ngành, vùng sâu, vùng xa, khu vực biển và hải đảo. Cùng với việc củng cố tổ chức mạng lưới dự báo, ngành đã chú trọng đầu tư hệ thống quan trắc, thông tin liên lạc, công nghệ vệ tinh, ra đa thời tiết, mô hình dự báo số trị, mô hình thủy văn - thủy lực và các nền tảng cung cấp thông tin hiện đại. Nhờ đó, thời gian dự kiến và độ tin cậy của bản tin dự báo được nâng lên rõ rệt; thông tin ngày càng chi tiết, đa dạng, hướng tới dự báo dựa trên tác động và cảnh báo dựa trên rủi ro; góp phần quan trọng vào việc chủ động phòng ngừa, giảm thiểu thiệt hại thiên tai, phục vụ nhu cầu của người dân, doanh nghiệp và các ngành kinh tế.

10-442d9d46d71a19c3c904fd86b549d5b5_1791519351.png

Bước tiến trong chất lượng dự báo, đáp ứng yêu cầu phát triển

Có thể thấy, phạm vi phục vụ của ngành KTTV ngày càng mở rộng, từ các nhiệm vụ truyền thống như PCTT, sản xuất nông nghiệp đến vận hành hồ chứa, giao thông vận tải, khai thác tài nguyên, xây dựng, năng lượng, quốc phòng và các hoạt động kinh tế trên biển,… đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu sản xuất, quốc phòng và đời sống nhân dân. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành là tăng cường năng lực và hiệu quả dự báo KTTV. Trước yêu cầu ngày càng cao của xã hội, hệ thống tổ chức dự báo từ cơ quan trung ương đến các Đài KTTV tỉnh, thành phố được hình thành và phát triển. Đồng thời, công tác đổi mới trang thiết bị phục vụ khai thác, xử lý số liệu và công nghệ dự báo được đẩy mạnh.

Hệ thống thông tin chuyên ngành từng bước được hình thành với ba cụm chủ chốt: Các trạm ven biển và hải đảo phục vụ dự báo bão, không khí lạnh; các trạm thủy văn đầu nguồn và trên các tuyến sông lớn phục vụ dự báo lũ; cùng các cụm trạm phát báo quốc tế. Nhiều thiết bị thông tin mới như máy vô tuyến đàm thoại, máy thu facsimile được đưa vào sử dụng. Các kênh viễn thông khí tượng Hà Nội - Matxcơva, Hà Nội - Bắc Kinh,  Hà Nội - Băng Cốc,... từng bước được thiết lập, góp phần nâng cao khả năng trao đổi và tiếp nhận thông tin KTTV quốc tế.

Các chương trình, đề tài về thực nghiệm bão nhiệt đới, nghiên cứu bão ở Biển Đông, dự báo nước dâng do bão, dự báo sóng, khai thác ra đa thời tiết và ứng dụng các mô hình thủy văn đã tạo cơ sở khoa học - kỹ thuật cho việc khách quan hóa và nâng cao chất lượng các bản tin dự báo. Sự phát triển về tổ chức, nguồn nhân lực, trang thiết bị và công nghệ đã tạo chuyển biến đáng kể về chất lượng dự báo. Phạm vi và hạng mục dự báo KTTV ngày càng mở rộng, chất lượng và hiệu quả phục vụ được nâng cao.

Đối với bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông, phần lớn các hệ thống dự báo phát hiện, theo dõi và dự báo kịp thời, đặc biệt đối với những cơn bão có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam. Khu vực đổ bộ, phạm vi ảnh hưởng, cường độ gió, nước dâng và lượng mưa do bão được dự báo trước khoảng 18 - 24 giờ. Đối với lũ trên sông Hồng và sông Thái Bình, thời gian dự kiến đạt 36 - 48 giờ; các sông miền Trung đạt 24 - 36 giờ; diễn biến mực nước lũ trên sông Cửu Long có thể được cảnh báo trước nhiều ngày. Cùng với đó, ngành KTTV dự báo được khoảng 80% các trận mưa vừa và lớn trên diện rộng, cảnh báo hầu hết các đợt nắng nóng và khô hạn kéo dài, dự báo được 80 - 90% các đợt gió mùa Đông Bắc và nhận định chính xác nhiều đợt rét đậm, rét hại trên diện rộng. Chất lượng dự báo thời tiết, thủy văn hàng ngày cũng được nâng lên từ 5 - 10%. Việc phát hành đều đặn bản tin dự báo thời tiết hai lần mỗi ngày và dự báo thời tiết biển ba lần mỗi ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng đã từng bước trở thành một nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội.

Những kết quả trên cho thấy sự thay đổi quan trọng trong cách thức phục vụ của ngành KTTV: Từ cung cấp thông tin sau khi hiện tượng xảy ra sang chủ động cung cấp thông tin dự báo sớm, tạo điều kiện để các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân chủ động đưa ra quyết định.

Mở rộng phục vụ các ngành kinh tế và đời sống xã hội

Cùng với nhiệm vụ dự báo phục vụ phòng, chống thiên tai và cộng đồng, dự báo KTTV ngày càng đi sâu vào các lĩnh vực chuyên đề, chuyên ngành. Điển hình như: Thông tin dự báo phục vụ hiệu quả thi công các công trình thủy điện Hòa Bình, Trị An, trong đó có việc dự báo diễn biến thời tiết, thủy văn với thời gian dự kiến tương đối dài để xác định thời điểm và triển khai kế hoạch ngăn sông. Dự báo thời tiết cũng được sử dụng trong khai thác than tại mỏ Cọc VI, khai thác apatit tại Lào Cai và nhiều hoạt động sản xuất khác.

Đối với lĩnh vực năng lượng và tài nguyên nước, dự báo KTTV chuyên đề phục vụ quản lý, vận hành các hồ thủy điện lớn thuộc 11 Quy trình vận hành liên hồ chứa trên toàn quốc, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng dung tích hồ cho phát điện, cấp nước nông nghiệp và phòng, chống lũ. Trong lĩnh vực biển, thông tin dự báo phục vụ đánh bắt hải sản, giao thông vận tải, xây dựng, quốc phòng và đặc biệt là khai thác dầu khí ngày càng được nâng cao về chất lượng.

Nông nghiệp là một trong những lĩnh vực truyền thống của dự báo KTTV. Thông tin dự báo phục vụ phòng chống úng, hạn, rét, sâu bệnh, xác định thời vụ, theo dõi sinh trưởng và năng suất cây trồng, vật nuôi. Hiện nay, hệ thống bản tin thời tiết nông vụ được xây dựng và duy trì theo tuần, tháng và 6 tháng cho bảy khu vực sản xuất nông nghiệp trọng điểm. Các bản tin không chỉ cung cấp thông tin về tổng tích ôn hữu hiệu, lượng mưa hữu hiệu, hạn hán, ẩm ướt và thủy văn mà còn nhận định mức độ thuận lợi của thời tiết đối với từng loại cây trồng và đưa ra khuyến nghị kỹ thuật canh tác. Việc công khai các bản tin trên Cổng thông tin điện tử của Cục KTTV giúp người dân chủ động tra cứu và sử dụng thông tin.

Chất lượng dự báo không chỉ được đánh giá thông qua độ chính xác mà còn thông qua khả năng chuyển hóa thông tin khoa học thành thông tin hữu ích cho người sử dụng. Chất lượng dự báo, cảnh báo lũ đạt khoảng 60 - 70%; dự báo hạn ngắn đạt 82 - 85%; hạn vừa đạt 70 - 80% và hạn dài đạt 65 - 70%. Đây là cơ sở để ngành tiếp tục cải tiến hình thức và nội dung bản tin theo hướng cụ thể, rõ ràng và dễ sử dụng hơn. Các bản tin được điều chỉnh theo hướng làm rõ hơn tác động của bão, mưa và lũ. Bản đồ dự báo bão được thiết kế dễ tham khảo hơn; nhận định về diễn biến mưa, khu vực và thời gian xuất hiện gió mạnh, sóng lớn được cụ thể hóa. Bản tin bão, lũ được phát sớm hơn từ 30 phút đến một giờ so với trước đây và chuyển ngay đến các Đài KTTV khu vực, Đài KTTV tỉnh để phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo tại địa phương.

Đáng chú ý, thông tin dự báo được đưa lên các trang thông tin của ngành, phương tiện thông tin đại chúng và các cơ quan chỉ đạo phòng, chống thiên tai ở trung ương, địa phương. Dự báo KTTV Việt Nam gắn chặt với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, PCTT, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phục vụ đời sống nhân dân. Từ hệ thống thông tin, thiết bị và phương pháp dự báo còn hạn chế, ngành đã xây dựng mạng lưới dự báo từ trung ương đến địa phương, mở rộng phạm vi phục vụ tới vùng sâu, vùng xa, biển và hải đảo, đồng thời đi sâu vào các lĩnh vực chuyên ngành. Đặc biệt, việc từng bước chuyển sang dự báo dựa trên tác động và cảnh báo dựa trên rủi ro cho thấy sự thay đổi căn bản trong phương thức phục vụ. Người dân không chỉ cần biết hiện tượng KTTV sẽ xảy ra ở đâu, khi nào và với cường độ nào, mà quan trọng hơn là cần biết hiện tượng đó tác động như thế nào đến cuộc sống, sản xuất và tài sản để chủ động ứng phó.

TS. Hoàng Đức Cường, Phó cục trưởng Cục KTTV cho biết, độ tin cậy trong các bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai đã được tăng lên; các công nghệ dự báo KTTV dần tiếp cận trình độ các nước tiên tiến trong khu vực. Ngành KTTV tiếp tục đầu tư, nâng cấp kết cấu hạ tầng, trang thiết bị, phương tiện KTTV theo hướng hiện đại, đồng bộ, tự động hoá, tích hợp đa mục tiêu; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hoàn thiện phương pháp, quy trình dự báo, cảnh báo thiên tai, giám sát BĐKH, cơ sở dữ liệu liên thông cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, dữ liệu KTTV; đặc biệt là thông tin, dữ liệu về nguy cơ xảy ra các hiện tượng KTTV nguy hiểm, bất thường với độ tin cậy, chính xác cao; tăng cường năng lực cảnh báo sớm thiên tai, đặc biệt là thiên tai về lũ quét, sạt lở đất, đá,…

Trong thời gian tới, trước yêu cầu ngày càng cao của xã hội, diễn biến phức tạp của thời tiết, khí hậu, ngành KTTV tiếp tục hiện đại hóa hạ tầng, phát triển khoa học - công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường liên thông dữ liệu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Mục tiêu xuyên suốt là xây dựng hệ thống dự báo hiện đại, chính xác, nhanh chóng, dễ tiếp cận và lấy người sử dụng làm trung tâm. Qua đó, công tác dự báo KTTV sẽ tiếp tục đóng góp thiết thực vào bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai và phục vụ hiệu quả hơn sự phát triển bền vững của đất nước.

Phương Đông