Đánh thức giá trị từ những cánh đồng sen

Đánh thức giá trị từ những cánh đồng sen

Thứ sáu, 11/9/2026, 06:10 (GMT+7)
logo Từ loài cây gắn bó sâu đậm với đời sống, văn hóa và ký ức của người Việt, sen đang được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên cho kinh tế nông nghiệp đa giá trị. Khi vùng nguyên liệu được kết nối với chế biến, sản phẩm OCOP, làng nghề và du lịch trải nghiệm, sen không chỉ tạo ra giá trị, mở rộng sinh kế, mà còn gìn giữ bản sắc và làm giàu không gian nông thôn.

Từ cây sen đến hệ sinh thái kinh tế đa giá trị

Nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mạnh từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”. Theo cách tiếp cận này, giá trị của một cây trồng không chỉ được đo bằng năng suất và sản lượng trên một đơn vị diện tích, mà còn bằng khả năng tạo việc làm, phát triển sản phẩm chế biến, khôi phục nghề truyền thống, xây dựng cảnh quan, thu hút du khách và hình thành câu chuyện riêng của mỗi vùng đất.

Sen là một trong số ít cây trồng có thể hội tụ nhiều lớp giá trị trên cùng một không gian sản xuất. Hầu hết các bộ phận của cây như hoa, hạt, tâm sen, gương sen, ngó, củ và lá đều có thể được khai thác. Từ nguyên liệu ban đầu, có thể phát triển thực phẩm, đồ uống, dược liệu, mỹ phẩm, hàng thủ công, quà tặng và các dịch vụ trải nghiệm. Khi được tổ chức đồng bộ, cây sen có khả năng hình thành một chuỗi giá trị khá hoàn chỉnh, kết nối nông nghiệp với công nghiệp chế biến, thương mại, văn hóa và du lịch.

17_1788858516.jpg
Cây sen đang là nguồn thu nhập chính của nhiều vùng nông thôn

Theo PGS, TS. Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả (Học viện Nông nghiệp Việt Nam), du lịch nông nghiệp đang mở ra cơ hội để người dân không chỉ bán nông sản mà còn bán tri thức bản địa, câu chuyện văn hóa và trải nghiệm. Du khách đến vùng sen có thể tìm hiểu giống và kỹ thuật canh tác, trải nghiệm thu hái, sơ chế, ướp trà, thưởng thức ẩm thực từ sen, gặp gỡ nghệ nhân, đồng thời mua những sản phẩm đặc trưng gắn với nguồn gốc địa phương. Đây là bước chuyển quan trọng từ “bán sản phẩm” sang “bán giá trị”.

Nếu chỉ được xem là diện tích sản xuất, giá trị của cánh đồng sen chủ yếu đến từ hoa, hạt, ngó hoặc củ. Nhưng khi được quy hoạch và vận hành như một không gian du lịch nông nghiệp, đồng sen có thể tạo thêm doanh thu từ vé tham quan, dịch vụ hướng dẫn, trải nghiệm thu hái, ẩm thực, chụp ảnh, lưu trú, vận chuyển và bán sản phẩm tại chỗ.

Một hành trình trải nghiệm hợp lý có thể bắt đầu bằng tham quan vùng trồng, nhận biết các giống sen và nghe câu chuyện về lịch sử, văn hóa địa phương. Tiếp đến là hoạt động thu hái, sơ chế hoặc chế biến. Cuối cùng là thưởng thức món ăn, trà sen và lựa chọn sản phẩm OCOP, quà lưu niệm. Khi vùng sen được kết nối với làng nghề, nghệ nhân, di tích, homestay và các điểm du lịch cộng đồng lân cận, chuyến tham quan đơn lẻ có thể trở thành một tuyến trải nghiệm có chiều sâu và thời gian lưu trú dài hơn.

14_1788858512.jpg
Từ hoa, lá, ngó sen... đều cho giá trị kinh tế

PGS, TS. Đặng Văn Đông cho biết, mô hình của Hợp tác xã Hoa sen Vân Đài, xã Hồng Minh, tỉnh Hưng Yên là một ví dụ điển hình về tính hiệu quả của hoạt động này. Từ vùng đất trũng trồng lúa kém hiệu quả, hợp tác xã đã xây dựng vùng sen với nhiều giống có mục đích sử dụng khác nhau, kết hợp khai thác hoa, hạt, ngó, củ, phát triển sản phẩm OCOP và đón khách trải nghiệm. Việc bố trí các giống sen theo từng ô vừa phục vụ sản xuất, vừa tạo cảnh quan, hoạt động luân canh hoa vụ đông xuân giúp tăng hiệu quả sử dụng đất, lao động và hạ tầng sau mùa sen.

Điểm đáng quan tâm không chỉ là quy mô hay số lượt khách, mà là cách tổ chức nhiều dòng giá trị trên cùng một vùng sản xuất. Khi hợp tác xã có năng lực điều phối, người dân có thể đồng thời thu nhập từ nông sản, nguyên liệu chế biến và dịch vụ, doanh nghiệp có vùng nguyên liệu ổn định, du khách có sản phẩm trải nghiệm, còn địa phương có thêm điểm đến và việc làm nông thôn.

Tại tỉnh Đồng Tháp, địa phương được xem là một trong những vùng sen tiêu biểu của cả nước, sen đã được phát triển theo hướng ngành hàng, với diện tích lớn, nhiều sản phẩm chế biến và sự gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, ẩm thực, văn hóa, lễ hội và du lịch. Thực tiễn này cho thấy, tiềm năng của sen không nằm ở một sản phẩm đơn lẻ mà ở khả năng tạo lập hệ sinh thái sản phẩm và dịch vụ quanh cây sen.

Đến với cây sen không chỉ là “du lịch chụp ảnh”

Một hạn chế thường gặp ở các điểm du lịch những cánh đồng sen là tính mùa vụ cao. Khách thường tập trung trong thời gian sen hoa nở, chủ yếu tham quan và chụp ảnh, trong khi mức chi tiêu và thời gian lưu trú còn thấp. Nếu phát triển tự phát, lượng khách tăng nhanh còn có thể gây quá tải cảnh quan, phát sinh rác thải và ảnh hưởng đến sản xuất.

Vì vậy, khi sen nở hoa cần được coi là điểm nhấn thu hút du khách, chứ không phải toàn bộ sản phẩm du lịch. Sau mùa hoa vẫn có thể tổ chức các hoạt động ướp trà, chế biến món ăn, tìm hiểu công dụng của hạt, ngó, củ và lá sen, trình diễn nghề thủ công, trưng bày giống, kể chuyện làng nghề hoặc tham quan cơ sở sơ chế, chế biến. Những sản phẩm này giúp kéo dài thời gian hoạt động, giảm phụ thuộc vào mùa vụ và tạo thêm cơ hội tiêu thụ sản phẩm quanh năm.

Theo PGS, TS. Đặng Văn Đông, có thể tổ chức "chuỗi Sen" theo mô hình “Một trung tâm - Ba không gian - Năm tác nhân”. “Một trung tâm” là hợp tác xã hoặc doanh nghiệp cộng đồng có năng lực điều phối. “Ba không gian” gồm vùng nguyên liệu, không gian chế biến - làng nghề - OCOP và không gian trải nghiệm - văn hóa - thương mại. “Năm tác nhân” gồm Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã/nông dân và cộng đồng du lịch, nghệ nhân.

Trong cấu trúc đó, hợp tác xã đóng vai trò tổ chức vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng và điều phối dịch vụ. Doanh nghiệp tham gia từ khâu thiết kế sản phẩm, xây dựng thị trường và đưa khách. Người dân trực tiếp sản xuất và cung cấp dịch vụ; nghệ nhân lưu giữ, truyền dạy tri thức và kỹ năng. Nhà khoa học cung cấp giải pháp về giống, kỹ thuật, chế biến và môi trường. Nhà nước kiến tạo cơ chế, đầu tư hạ tầng thiết yếu và giám sát chất lượng. Chỉ khi lợi ích và trách nhiệm của từng chủ thể được xác định rõ, du lịch sen mới có thể vận hành ổn định.

19_1788858520.jpg
Những cánh đồng ngoài sen, người dân còn trồng bông súng kết hợp nuôi thủy sản, phát triển du lịch cộng đồng

Ngày nay, phát triển kinh tế, du lịch… phải gắn chặt với chuyển đổi số. Chuyển đổi số có thể hỗ trợ đồng thời sản xuất, thương mại và du lịch. Bản đồ số vùng sen giúp quản lý diện tích, giống, mùa vụ, vùng nguyên liệu và điểm trải nghiệm. Nhật ký điện tử và mã QR giúp truy xuất nguồn gốc, cung cấp thông tin về người sản xuất, quy trình canh tác, thời gian thu hoạch và phương pháp chế biến.

Đối với du lịch, nền tảng số có thể hỗ trợ đặt lịch, phân luồng khách, giới thiệu dịch vụ, tiếp nhận phản hồi và kết nối với thương mại điện tử. Tuy nhiên, mã QR không nên chỉ là hình thức trang trí trên bao bì. Dữ liệu phải được cập nhật, kiểm chứng và sử dụng để quản lý chất lượng, kết nối người mua, kể câu chuyện vùng trồng và nâng cao tính minh bạch của sản phẩm.

Việc số hóa cũng cần bắt đầu từ nhu cầu thực tế và năng lực vận hành của hợp tác xã, doanh nghiệp. Một hệ thống đơn giản nhưng được cập nhật thường xuyên, giúp ra quyết định và tạo thuận lợi cho khách hàng sẽ có giá trị hơn một nền tảng phức tạp nhưng thiếu dữ liệu sống.

PGS, TS. Đặng Văn Đông cho rằng, sen có thể tạo cảnh quan cho ao, hồ, ruộng trũng và những diện tích sản xuất kém hiệu quả. Tuy nhiên, không nên tuyệt đối hóa sen như một giải pháp có thể xử lý mọi vấn đề môi trường. Việc chuyển đổi đất và mặt nước sang trồng sen cần phù hợp với quy hoạch, điều kiện thủy văn, chất lượng đất, nước và yêu cầu bảo tồn hệ sinh thái tại chỗ.

Muốn xây dựng điểm du lịch sen bền vững, các yếu tố như chất lượng nước, bùn đáy, đa dạng sinh học và sức chịu tải của không gian phải được đánh giá ngay từ đầu. Cần có phương án thu gom rác, xử lý nước thải từ sơ chế, chế biến, quản lý phụ phẩm, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, đồng thời bảo đảm an toàn cho du khách tại khu vực ao, hồ...

Một điểm du lịch hấp dẫn hôm nay nhưng làm suy giảm môi trường sẽ tự đánh mất sức hút trong tương lai. Vì thế, “xanh”, “sinh thái”, “hữu cơ” hay “thân thiện với môi trường” không thể chỉ là khẩu hiệu truyền thông, mỗi tuyên bố cần đi kèm tiêu chí, quy trình giám sát và bằng chứng phù hợp.

Để sen thực sự trở thành ngành hàng đa giá trị

Theo PGS, TS. Đặng Văn Đông, trước hết, các địa phương không nên mở rộng diện tích theo phong trào khi chưa xác định đầu ra. Mỗi vùng cần lựa chọn rõ hướng sản phẩm chủ lực: lấy hoa, hạt, ngó, củ, chế biến, cảnh quan hay du lịch. Lựa chọn giống, quy trình kỹ thuật, đầu tư hạ tầng và tổ chức thị trường phải bám sát định hướng đó.

Bên cạnh đó, cần chuẩn hóa vùng nguyên liệu và chất lượng sản phẩm, xây dựng quy trình sản xuất an toàn, truy xuất nguồn gốc, đầu tư sơ chế, bảo quản và chế biến phù hợp. Việc đa dạng hóa sản phẩm phải đi cùng nghiên cứu thị trường, tiêu chuẩn hóa bao bì, nhãn hiệu và câu chuyện thương hiệu, tránh tình trạng nhiều sản phẩm nhưng chất lượng không ổn định và khó mở rộng thị trường.

Đồng thời cần có những hợp tác xã đủ năng lực làm “nhạc trưởng” của chuỗi và doanh nghiệp làm đầu kéo thị trường. Cơ chế phân chia lợi ích phải bảo đảm người trồng sen, người làm nghề và cộng đồng địa phương được hưởng phần giá trị tương xứng. Tăng cường liên kết với đơn vị nghiên cứu để chọn tạo giống, hoàn thiện quy trình canh tác, bảo quản, chế biến sâu và tận dụng phụ phẩm.

1_1788858507.jpg
Không chỉ được ngắm hoa, du khách còn được nghe kể câu chuyện về sen

Đặc biệt, hiệu quả của mô hình phải được đánh giá bằng một hệ thống chỉ tiêu đầy đủ như: thu nhập và việc làm của người dân, doanh thu trên đơn vị diện tích, tỷ lệ sản phẩm được chế biến, thời gian lưu trú và mức chi tiêu của khách, khả năng tiêu thụ ngoài mùa, mức độ tham gia của cộng đồng, chất lượng đất, nước và cảnh quan, cùng sức sống của làng nghề…

Từ những cánh đồng sen có thể hình thành vùng nguyên liệu. Từ vùng nguyên liệu phát triển chế biến và sản phẩm OCOP. Từ làng nghề tạo dựng câu chuyện văn hóa. Từ cảnh quan và câu chuyện ấy hình thành tour du lịch và từ du lịch, giá trị lại quay về với người sản xuất, nghệ nhân và cộng đồng. Đó là vòng tuần hoàn, trong đó nông nghiệp, văn hóa, làng nghề, thương mại và du lịch bổ trợ cho nhau.

Phát triển sen gắn với du lịch nông nghiệp vì thế không đơn giản là mở thêm một điểm check-in, mà là quá trình tổ chức lại không gian nông thôn theo hướng đa giá trị. Trong đó người dân là chủ thể, hợp tác xã là hạt nhân, doanh nghiệp là cầu nối thị trường, khoa học và công nghệ là động lực, văn hóa là bản sắc, còn môi trường là nền tảng.

“Mục tiêu cuối cùng là để sen không chỉ nở trên đồng ruộng, ao hồ hay trong những câu chuyện văn hóa, mà còn ‘nở’ trong sinh kế của người dân, trong sức sống của làng nghề, trong diện mạo nông thôn mới và trong những trải nghiệm đáng nhớ của du khách. Khi mỗi vùng sen tìm được bản sắc riêng, mỗi sản phẩm có câu chuyện xác thực, mỗi tour tạo ra lợi ích cho cộng đồng và mỗi chính sách hỗ trợ được đo bằng hiệu quả thực tế, sen Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một ngành hàng xanh, giàu bản sắc và có sức cạnh tranh”, PGS, TS. Đặng Văn Đông nhấn mạnh.

Lê Hải