Văn bản hợp nhất số 66/VBHN-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hợp nhất quy định về tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp. Điểm đáng chú ý là quy định tiếp tục chuẩn hóa tiêu chí đánh giá, thành phần hồ sơ, quy trình thẩm định; đồng thời cập nhật thẩm quyền giải quyết theo hướng phân cấp, tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân có kết quả nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý cần đưa vào sản xuất.
Văn bản hợp nhất số 66/VBHN-BNNMT hợp nhất Thông tư số 04/2018/TT-BNNPTNT ngày 03/5/2018 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (trước đây) về quy định tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 22/2026/TT-BNNMT ngày 19/5/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Việc hợp nhất quy định này có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất và giảm thiểu tác động đến môi trường. Một tiến bộ kỹ thuật sau khi được công nhận sẽ có cơ sở pháp lý để quảng bá, công bố, ứng dụng và chuyển giao vào sản xuất theo quy định của pháp luật.
Chuẩn hóa phạm vi và tiêu chí công nhận tiến bộ kỹ thuật
Theo văn bản hợp nhất, tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp được hiểu là các tiến bộ về giống, sản phẩm, quy trình sản xuất, giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý trong nông nghiệp. Quy định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến công nhận tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp.
Tuy nhiên, văn bản cũng xác định rõ một số nội dung không thuộc phạm vi điều chỉnh, gồm: công nhận giống cây trồng, giống vật nuôi, giống thủy sản; khảo nghiệm, thử nghiệm, đăng ký lưu hành vật tư nông nghiệp thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước đây, nay thuộc hệ thống quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo cơ cấu tổ chức mới.
Về tiêu chí công nhận, tiến bộ kỹ thuật được công nhận lần đầu phải đáp ứng hai nhóm yêu cầu cơ bản. Thứ nhất, có tính mới, tính sáng tạo, tính ổn định và khả năng cạnh tranh cao. Thứ hai, bảo đảm chất lượng, giảm thiểu tác động đến môi trường và có triển vọng mở rộng sản xuất.
Đối với tiến bộ kỹ thuật tương tự tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận, ngoài việc đáp ứng các tiêu chí nêu trên, văn bản yêu cầu phải có hiệu quả kinh tế cao hơn ít nhất 10% so với tiến bộ kỹ thuật tương tự đã được công nhận. Quy định này nhằm tránh tình trạng công nhận tràn lan các giải pháp không tạo ra giá trị gia tăng rõ rệt, đồng thời khuyến khích các tổ chức, cá nhân tiếp tục cải tiến, nâng cao hiệu quả ứng dụng trong thực tiễn sản xuất.
Một điểm đáng chú ý là hệ thống biểu mẫu kèm theo văn bản đã lượng hóa các tiêu chí đánh giá. Phiếu đánh giá tiến bộ kỹ thuật được xây dựng trên thang điểm 100, trong đó giá trị khoa học chiếm 45 điểm, gồm tính mới, tính sáng tạo, tính cạnh tranh cao và tính ổn định; giá trị ứng dụng chiếm 55 điểm, gồm bảo đảm chất lượng, giảm thiểu tác động đến môi trường và triển vọng mở rộng sản xuất. Tiến bộ kỹ thuật được đánh giá “đạt” khi tổng số điểm từ 60 trở lên và không có tiêu chí nào thấp hơn 50% điểm tối đa.
Cách tiếp cận này cho thấy chính sách không chỉ quan tâm đến giá trị nghiên cứu, mà còn đặt trọng tâm vào khả năng ứng dụng, hiệu quả sản xuất và yêu cầu bảo vệ môi trường. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp hiện đại, nông nghiệp xanh và nông nghiệp bền vững.
Hồ sơ, thẩm quyền và thời hạn giải quyết được quy định cụ thể
Văn bản hợp nhất quy định tổ chức, cá nhân có nhu cầu đăng ký công nhận tiến bộ kỹ thuật nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền. Hình thức nộp hồ sơ gồm nộp trực tiếp, nộp trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính.
Thành phần hồ sơ gồm ba nhóm tài liệu chính: văn bản đề nghị công nhận tiến bộ kỹ thuật theo Mẫu số 1; báo cáo kết quả nghiên cứu tiến bộ kỹ thuật theo Mẫu số 2; bản nhận xét ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất của tối thiểu 03 tổ chức hoặc cá nhân theo Mẫu số 3. Trường hợp bản nhận xét do cá nhân thực hiện thì phải được cơ quan hoặc địa phương nơi cá nhân sinh sống hoặc công tác xác nhận.
Điểm mới quan trọng trong văn bản hợp nhất là quy định rõ thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính công nhận tiến bộ kỹ thuật theo hướng phân cấp. Đối với tiến bộ kỹ thuật áp dụng trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên, thẩm quyền thuộc Cục quản lý chuyên ngành trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đối với tiến bộ kỹ thuật áp dụng trên địa bàn 01 tỉnh, thẩm quyền thuộc cơ quan chuyên môn được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao giải quyết.
Quy định này giúp phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan quản lý chuyên ngành ở Trung ương và cơ quan chuyên môn tại địa phương. Với những tiến bộ kỹ thuật có phạm vi ứng dụng trong một tỉnh, việc giao cơ quan chuyên môn cấp tỉnh giải quyết có thể rút ngắn khoảng cách hành chính, tạo điều kiện để địa phương chủ động hơn trong thẩm định, công nhận và thúc đẩy ứng dụng tiến bộ kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất trên địa bàn.
Về trình tự giải quyết, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và thông báo bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân đăng ký về việc chấp nhận hồ sơ hợp lệ, yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ hoặc từ chối nếu hồ sơ không hợp lệ. Thời gian bổ sung, hoàn thiện hồ sơ không tính vào thời gian thẩm định.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá, thẩm định tiến bộ kỹ thuật. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định thành lập Hội đồng, cơ quan có thẩm quyền tổ chức họp thẩm định hồ sơ. Sau phiên họp, trong thời hạn 03 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền thông báo bằng văn bản về kết quả họp Hội đồng và các nội dung cần hoàn thiện nếu có.
Trường hợp phải hoàn thiện hồ sơ, tổ chức, cá nhân đăng ký có thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo để hoàn thiện và gửi lại hồ sơ. Nếu quá thời hạn này mà không hoàn thiện, cơ quan có thẩm quyền sẽ hủy hồ sơ đăng ký công nhận tiến bộ kỹ thuật.
Sau khi nhận được hồ sơ hoàn thiện, trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành Quyết định công nhận tiến bộ kỹ thuật theo Mẫu số 8. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành, Quyết định công nhận tiến bộ kỹ thuật phải được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của đơn vị.
Việc quy định cụ thể từng mốc thời gian trong quá trình tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định và công nhận giúp nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của cơ quan giải quyết thủ tục hành chính; đồng thời giúp tổ chức, cá nhân chủ động hơn trong chuẩn bị hồ sơ và theo dõi tiến độ xử lý.
Hội đồng thẩm định, hủy bỏ công nhận và trách nhiệm tổ chức thực hiện
Văn bản hợp nhất quy định Hội đồng tư vấn đánh giá, thẩm định tiến bộ kỹ thuật có 07 thành viên, gồm chủ tịch, phó chủ tịch, 02 ủy viên phản biện, ủy viên thư ký và các ủy viên; trong đó có 01 thành viên đại diện tổ chức, địa phương nơi ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.
Để bảo đảm tính khách quan, văn bản quy định tác giả, đồng tác giả đăng ký công nhận tiến bộ kỹ thuật và cá nhân thuộc tổ chức đăng ký công nhận tiến bộ kỹ thuật không được tham gia Hội đồng. Phiên họp của Hội đồng phải có mặt tối thiểu 05 thành viên, trong đó phải có chủ tịch hoặc phó chủ tịch, ủy viên thư ký và tối thiểu 01 ủy viên phản biện. Trường hợp một ủy viên phản biện vắng mặt thì phải gửi ý kiến đánh giá bằng văn bản.
Hội đồng đề nghị công nhận tiến bộ kỹ thuật khi có tối thiểu 05 thành viên theo danh sách tại quyết định thành lập Hội đồng đánh giá ở mức “Đạt”. Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền thành lập đoàn để thẩm định, đánh giá hiện trường ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.
Bên cạnh quy định về công nhận, văn bản cũng đặt ra cơ chế hủy bỏ quyết định công nhận tiến bộ kỹ thuật. Theo đó, tiến bộ kỹ thuật bị hủy bỏ khi không được ứng dụng vào sản xuất trong 03 năm liên tiếp tính đến thời điểm rà soát hoặc có sự gian lận hồ sơ đăng ký công nhận tiến bộ kỹ thuật do cơ quan có thẩm quyền kết luận. Sau khi ban hành quyết định hủy bỏ, trong thời hạn 03 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền phải đăng tải quyết định này trên cổng thông tin điện tử của đơn vị.
Quy định về hủy bỏ công nhận có ý nghĩa quan trọng, bởi công nhận tiến bộ kỹ thuật không chỉ là sự ghi nhận kết quả nghiên cứu, mà còn gắn với yêu cầu ứng dụng thực tế. Những tiến bộ không còn được áp dụng trong sản xuất hoặc được công nhận trên cơ sở hồ sơ gian lận cần được loại khỏi hệ thống để bảo đảm tính nghiêm minh, minh bạch và hiệu quả quản lý nhà nước.
Văn bản cũng quy định việc ban hành Danh mục tiến bộ kỹ thuật hằng năm. Theo đó, cơ quan có trách nhiệm tổng hợp, trình Bộ trưởng ban hành Danh mục tiến bộ kỹ thuật; danh mục này được đăng tải trên cổng thông tin điện tử trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ban hành. Đây là cơ sở quan trọng để các địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức khoa học công nghệ và người sản xuất tra cứu, lựa chọn, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật phù hợp.
Đối với tổ chức, cá nhân có tiến bộ kỹ thuật được công nhận, văn bản quy định quyền được quảng cáo, công bố, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất theo quy định của pháp luật; đồng thời có quyền khiếu nại, tố cáo về các hành vi vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đi kèm với đó là nghĩa vụ chịu trách nhiệm về xuất xứ và các tài liệu liên quan của tiến bộ kỹ thuật, cũng như hướng dẫn việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.
Về điều khoản chuyển tiếp, các hồ sơ, thủ tục hành chính đã được tiếp nhận trước ngày Thông tư số 22/2026/TT-BNNMT có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ. Các văn bản, giấy tờ đã được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành, cấp trước ngày Thông tư này có hiệu lực mà chưa hết hiệu lực hoặc chưa hết thời hạn sử dụng thì tiếp tục được áp dụng, sử dụng theo quy định của pháp luật cho đến khi hết thời hạn.
Có thể thấy, văn bản hợp nhất số 66/VBHN-BNNMT không chỉ hệ thống hóa các quy định về công nhận tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp, mà còn cập nhật tinh thần phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Việc làm rõ tiêu chí, thành phần hồ sơ, thẩm quyền, thời hạn giải quyết, trách nhiệm của Hội đồng thẩm định và cơ chế hậu kiểm sẽ góp phần tạo hành lang pháp lý minh bạch hơn cho hoạt động nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp.
Trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang chuyển mạnh sang mô hình sản xuất xanh, tuần hoàn, phát thải thấp và dựa nhiều hơn vào khoa học công nghệ, việc công nhận kịp thời các tiến bộ kỹ thuật có giá trị thực tiễn sẽ là động lực quan trọng để đưa kết quả nghiên cứu vào đồng ruộng, trang trại, vùng nuôi, cơ sở sản xuất. Đây cũng là một bước cụ thể nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển nông nghiệp bền vững trong giai đoạn mới.