Khánh Hòa đang xây dựng kế hoạch phát triển hệ thống cảng biển giai đoạn 2026–2030 theo hướng đồng bộ, hiện đại, tăng cường kết nối vùng và từng bước đáp ứng tiêu chuẩn cảng xanh, cảng thông minh. Cùng với mở rộng năng lực tiếp nhận tàu trọng tải lớn, tỉnh đặt ra yêu cầu kiểm soát phát thải, sử dụng năng lượng sạch, bảo vệ môi trường biển và số hóa hoạt động quản lý, khai thác cảng.
Theo Kế hoạch phát triển hệ thống cảng biển Khánh Hòa giai đoạn 2026–2030, mục tiêu của tỉnh là cụ thể hóa các định hướng quy hoạch thành danh mục dự án đầu tư; xác định rõ quy mô, công năng từng khu bến; đồng thời huy động nguồn lực phát triển hạ tầng cảng biển, luồng hàng hải, giao thông kết nối và dịch vụ logistics.
Việc phát triển hệ thống cảng biển được đặt trong mối liên kết với khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, hình thành các hành lang vận tải đa phương thức gồm đường bộ, đường sắt và đường biển. Qua đó, Khánh Hòa hướng tới phát huy vai trò cửa ngõ ra biển, giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Năm 2026, hệ thống cảng biển Khánh Hòa gồm 6 khu bến chính: Bắc Vân Phong, Nam Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh, Ninh Chử và Cà Ná. Toàn tỉnh hiện có 21 bến cảng với 42 cầu cảng, bao gồm cả ụ tàu; tổng chiều dài cầu cảng đạt hơn 8.785 m. Cỡ tàu lớn nhất có thể tiếp nhận là 400.000 tấn tại khu bến Nam Vân Phong, trong khi bến Ninh Chử tiếp nhận tàu khoảng 2.000 tấn.
Theo định hướng đến năm 2030, Bắc Vân Phong được xác định có tiềm năng phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế. Khu vực này được quy hoạch các bến container có khả năng tiếp nhận tàu đến 24.000 TEU; tàu hàng tổng hợp, hàng rời đến 250.000 tấn. Bến tàu khách du lịch quốc tế Đầm Môn được định hướng tiếp nhận tàu khách đến 225.000 GT.
Nam Vân Phong tiếp tục phục vụ trực tiếp Khu kinh tế Vân Phong và nguồn hàng trong khu vực. Khu bến có thể tiếp nhận tàu tổng hợp đến 100.000 tấn, tàu hàng rời đến 300.000 tấn, tàu hàng lỏng và khí đến 150.000 tấn; đồng thời bổ sung bến container tiếp nhận tàu đến 18.000 TEU.
Khu bến Nha Trang được định hướng chuyển đổi toàn diện công năng thành bến khách quốc tế và bến du thuyền chuyên dụng, có khả năng tiếp nhận tàu khách đến 225.000 GT. Việc chuyển đổi được gắn với mục tiêu phát triển chuỗi sản phẩm, dịch vụ du lịch cao cấp và kết nối các hãng tàu biển quốc tế.
Cam Ranh được định hướng phục vụ phát triển kinh tế vùng và tăng cường liên kết với Tây Nguyên. Các bến tổng hợp, container, hàng rời có thể tiếp nhận tàu đến 70.000 tấn; bến tàu khách quốc tế tiếp nhận tàu đến 225.000 GT. Do có vị trí chiến lược đặc biệt, quá trình đầu tư và khai thác phải gắn chặt với yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Ở phía Nam, Cà Ná được quy hoạch thành cảng nước sâu phục vụ xuất nhập khẩu, công nghiệp và năng lượng. Các bến tổng hợp, container, hàng rời, LNG và xăng dầu được định hướng tiếp nhận tàu trọng tải đến 100.000 tấn hoặc lớn hơn. Ninh Chử tiếp tục phát triển theo hướng cảng hành khách, du lịch kết hợp hàng tổng hợp nội địa.
Đối với Trường Sa, tỉnh đặt nhiệm vụ phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kết nối, âu tàu và trang thiết bị hàng hải, vừa phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, vừa bảo đảm an ninh, quốc phòng.
Trong giai đoạn 2026–2027, Khánh Hòa tập trung thu hút đầu tư và triển khai các dự án động lực như cảng trung chuyển quốc tế Bắc Vân Phong, bến số 2 và bến số 3 thuộc cảng Ba Ngòi – Cam Ranh. Giai đoạn 2028–2030, tỉnh đặt mục tiêu đưa vào khai thác cảng hành khách quốc tế Nha Trang, cảng hành khách quốc tế Bắc bán đảo Cam Ranh và tổ hợp cảng nước sâu Cà Ná giai đoạn 2.
Để hệ thống cảng phát huy hiệu quả, kế hoạch xác định phải đồng bộ hạ tầng cảng biển với các tuyến cao tốc, quốc lộ, đường sắt và khu công nghiệp.
Khánh Hòa sẽ khai thác hiệu quả cao tốc Bắc – Nam phía Đông đoạn qua địa bàn; đẩy nhanh tiến độ cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột; nâng cấp Quốc lộ 26B và hoàn thiện tuyến đường nối cao tốc Bắc – Nam với Quốc lộ 1 và cảng biển tổng hợp Cà Ná. Dự án cao tốc Nha Trang – Đà Lạt cũng được nghiên cứu, chuẩn bị đầu tư nhằm tăng cường kết nối giữa duyên hải Nam Trung Bộ với Tây Nguyên.
Đối với đường sắt, tỉnh nghiên cứu khôi phục tuyến chuyên dùng từ cảng Cam Ranh đến ga Ngã Ba; nghiên cứu tuyến đường sắt dài khoảng 11,1 km dọc Quốc lộ 26B phục vụ Nam Vân Phong; đồng thời lập báo cáo tiền khả thi tuyến kết nối từ ga Cà Ná vào khu bến cảng.
Cùng với giao thông, tỉnh định hướng phát triển các trung tâm logistics liền cảng và cảng cạn tại Nam Vân Phong, Cà Ná. Các khu công nghiệp thuộc Khu kinh tế Vân Phong, KCN Ninh Thủy, KCN Phước Nam được yêu cầu nâng cao tỷ lệ lấp đầy; đồng thời đẩy nhanh quy hoạch, giải phóng mặt bằng các KCN Ninh Xuân 1, Ninh Xuân 2, Ninh Sơn, Xuân Sơn, Nam Cam Ranh, Diên Thọ và Cà Ná giai đoạn 2.
Nguồn vốn đầu tư được phân định theo từng nhóm công trình. Ngân sách nhà nước tập trung cho luồng hàng hải, đèn biển, khu neo đậu tránh trú bão, công trình bảo đảm an toàn hàng hải và hạ tầng dùng chung. Hình thức đối tác công tư được áp dụng đối với giao thông kết nối, hệ thống xử lý nước thải và chất thải. Nguồn vốn doanh nghiệp, FDI và DDI được huy động để đầu tư cầu cảng, kho bãi, thiết bị bốc xếp và nền tảng số.
Một trong những nội dung trọng tâm là chuyển đổi hệ thống cảng biển theo hướng xanh, thông minh. Theo đó, các dự án bến cảng xây dựng mới phải tích hợp hạ tầng cấp điện lưới trung thế cho tàu hàng, tàu khách khi cập bến, tạo điều kiện để tàu tắt máy phát điện diesel phụ trợ.
Các dự án được yêu cầu ưu tiên sử dụng năng lượng tái tạo, trong đó có điện mặt trời áp mái tại kho, bãi và công trình phụ trợ. Hoạt động bốc xếp phải có giải pháp kiểm soát bụi; phương tiện nội cảng được giám sát khí thải; nước thải sinh hoạt, nước vệ sinh và nước súc rửa hầm tàu phải được thu gom, xử lý theo quy chuẩn môi trường biển.
Trong giai đoạn 2028–2030, các doanh nghiệp cảng phải hoàn thiện hạ tầng cấp điện bờ, phát triển năng lượng tái tạo và sử dụng nhiên liệu sạch trong hoạt động nội cảng. Doanh nghiệp được yêu cầu xây dựng lộ trình chuyển đổi xanh, đổi mới công nghệ và thiết bị trong các năm 2028–2029, bảo đảm đáp ứng tiêu chuẩn bắt buộc từ năm 2030.
Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao thẩm định, quản lý chặt báo cáo đánh giá tác động môi trường, kiểm soát chỉ tiêu xả thải và bảo vệ hệ sinh thái vùng nước cảng biển. Sở Xây dựng có trách nhiệm lồng ghép tiêu chí cảng xanh, cảng thông minh trong quản lý quy hoạch, cấp phép xây dựng và lựa chọn nhà đầu tư.
Cùng với xanh hóa, tỉnh định hướng phát triển cảng thông minh trên bốn trụ cột: tự động hóa bốc xếp, số hóa quản lý, tối ưu hiệu quả logistics và kiểm soát an ninh, an toàn. Các công nghệ dự kiến áp dụng gồm cẩu trục điều khiển từ xa, xe tự hành, cảm biến IoT và camera tích hợp trí tuệ nhân tạo để nhận diện mã container, phương tiện. Cùng với đó, dữ liệu giữa doanh nghiệp cảng, hãng tàu và cơ quan hải quan sẽ được kết nối trên nền tảng dùng chung, hướng tới thông quan điện tử và rút ngắn thời gian giải phóng hàng hóa.