Từ vùng đồi hoang hóa, khô cằn ở thôn Suối Sâu, xã Nam Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, một hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn rộng gần 130 ha - ở đó phụ phẩm của quy trình này được tận dụng làm nguyên liệu cho quy trình khác - đã được hình thành, từng bước khẳng định hướng đi bền vững cho nông nghiệp địa phương.
Tháng 8/2025, Sản Việt Farm chính thức mở cửa, nhanh chóng trở thành điểm du lịch nông nghiệp tiêu biểu của địa phương. Ông Nguyễn Minh Thành, chủ nhân của Sản Việt Farm, cho biết, năm 2019, khu vực này mới chỉ có khoảng 8 ha đất sản xuất, phần lớn là đồi khô cằn, điều kiện canh tác khó khăn. Muốn phát triển lâu dài, trang trại không thể chỉ trồng một loại cây hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào phân bón, thức ăn và vật tư mua từ bên ngoài.
“Ban đầu, chúng tôi xác định phải phục hồi đất, giữ nước và tái tạo hệ sinh thái trước khi nghĩ đến việc mở rộng sản xuất. Nếu chỉ chạy theo sản lượng mà không chăm lại đất thì mô hình khó bền vững”, ông Thành chia sẻ.
Từ diện tích ban đầu, Sản Việt Farm từng bước mở rộng lên gần 130 ha, phát triển theo hướng kết hợp sản xuất nông nghiệp, phục hồi sinh thái, du lịch trải nghiệm và bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa.
Hiện trang trại dành khoảng 60 ha trồng các giống xoài như xoài Úc, xoài cát Hòa Lộc, xoài tứ quý và xoài Đài Loan; cùng với đó là hơn 2.500 cây dừa Xiêm Ninh Đa và khoảng 10 ha cây ăn quả, rau, cây bản địa. Gần 30 ha rừng được khoanh nuôi tái sinh nhằm giữ nguồn nước, điều hòa tiểu khí hậu, tạo sinh cảnh và hướng tới gia tăng khả năng hấp thụ carbon.
Khu vực chăn nuôi gồm bò, dê, lợn bản địa, gà thả vườn, cá, chim yến, ong dú và một số vật nuôi khác. Các phân khu không vận hành tách biệt mà được kết nối để tận dụng nguồn sinh khối, thức ăn, phân bón và môi trường sống.
Theo ông Thành, việc đa dạng cây trồng, vật nuôi không nhằm mở rộng mô hình một cách dàn trải mà để tạo sự bổ trợ giữa các hợp phần.
“Vườn cây cho hoa và trái, đồng thời tạo sinh khối và nguồn thức ăn chăn nuôi. Vật nuôi tạo ra phân hữu cơ. Rừng giữ nước, tạo nguồn hoa cho ong. Khi các yếu tố này được kết nối đúng cách, trang trại sẽ giảm được một phần đầu vào và hạn chế chất thải phát sinh”, ông Thành nói.
Điểm cốt lõi trong cách tổ chức sản xuất tại Sản Việt Farm là đưa phụ phẩm quay trở lại chu trình sản xuất. Phân từ đàn bò, gà và các vật nuôi được thu gom, kết hợp với men vi sinh để ủ thành phân hữu cơ, sau đó sử dụng cho vườn xoài, dừa, rau và các loại cây ăn quả.
Ở chiều ngược lại, rau củ không đạt quy cách, phụ phẩm sau thu hoạch và rác hữu cơ phát sinh trong quá trình vận hành được tận dụng làm thức ăn nuôi sâu canxi. Sau quá trình chuyển hóa, sâu canxi trở thành nguồn đạm bổ sung cho gà thả vườn và cá, qua đó giảm một phần lượng thức ăn công nghiệp mua từ bên ngoài.
“Mỗi ngày, một trang trại có thể phát sinh lượng phụ phẩm khá lớn. Nếu thu gom rồi đưa đi xử lý thì vừa tốn chi phí, vừa lãng phí tài nguyên. Chúng tôi phân loại từng dòng phụ phẩm để xem loại nào có thể làm thức ăn, loại nào đưa vào nuôi sâu canxi, loại nào phối trộn ủ phân”, ông Thành cho biết.
Một số phụ phẩm khác được sử dụng trực tiếp làm thức ăn cho vật nuôi hoặc đưa vào quá trình ủ phân hữu cơ. Nhờ đó, trang trại hạn chế được lượng chất thải phải đưa ra ngoài, trong khi chi phí phân bón, thức ăn chăn nuôi và xử lý môi trường từng bước giảm xuống.
Vòng tuần hoàn tại Sản Việt Farm bắt đầu từ đất và quay trở lại đất. Cây trồng tạo ra nông sản cùng phụ phẩm; phụ phẩm được sử dụng cho vật nuôi hoặc sâu canxi; chất thải chăn nuôi được xử lý thành phân hữu cơ, quay lại bổ sung dinh dưỡng cho đất và cây trồng.
Theo ông Thành, mô hình chưa thể loại bỏ hoàn toàn sự phụ thuộc vào vật tư từ bên ngoài, nhưng giúp trang trại chủ động hơn đối với một phần đầu vào.
“Nông nghiệp tuần hoàn không có nghĩa là mọi thứ đều khép kín tuyệt đối. Điều quan trọng là giảm thất thoát tài nguyên và tận dụng được nhiều nhất những gì đã có trong trang trại. Khi phụ phẩm được sử dụng trở lại phục vụ sản xuất, chi phí giảm và áp lực môi trường cũng giảm theo”, ông Thành nhấn mạnh.
Bên cạnh trồng trọt và chăn nuôi, mô hình nuôi ong dú tại Sản Việt cũng cho thấy cách trang trại gia tăng giá trị trên cùng một diện tích khai thác. Các tổ ong được bố trí dưới tán rừng, trong vườn dừa và vườn xoài, tận dụng nguồn phấn, mật hoa tự nhiên. Hoạt động nuôi ong vừa tạo ra mật, nguồn con giống, vừa hỗ trợ thụ phấn cho cây trồng.
Từ gần 100 tổ vào năm 2021, trang trại đã phát triển lên gần 3.000 tổ ong dú. Trong thời gian tập trung nhân đàn, sản lượng mật vẫn đạt trung bình khoảng 100 lít mỗi tháng. Mỗi năm, nguồn thu từ mật và con giống đạt khoảng 1 tỷ đồng. Trang trại cũng đầu tư thiết bị hạ thủy phần (máy tách nước mật ong) bằng công nghệ tách chân không nhằm kéo dài thời gian bảo quản và nâng giá trị sản phẩm.
Theo ông Nguyễn Minh Thành, sản xuất tuần hoàn chỉ có thể duy trì lâu dài nếu sản phẩm tạo ra có thị trường ổn định. Vì vậy, Sản Việt Farm kết hợp nông nghiệp với du lịch trải nghiệm, qua đó giới thiệu sản phẩm và minh bạch quy trình canh tác.
Tại Sản Việt Farm, du khách có thể tham quan vườn cây, khu chăn nuôi, khu nuôi ong, tìm hiểu cách xử lý phụ phẩm và sử dụng các sản phẩm được làm ra tại trang trại. Nông sản không chỉ được bán dưới dạng nguyên liệu mà còn được đưa vào nhà hàng, khu trưng bày, sản phẩm chế biến và các hoạt động trải nghiệm.
“Du khách đến đây không chỉ để mua một sản phẩm. Họ có thể nhìn thấy cây được trồng ra sao, vật nuôi được chăm sóc như thế nào và phụ phẩm được xử lý ra sao. Khi người tiêu dùng hiểu quy trình, giá trị của sản phẩm cũng được nhìn nhận đầy đủ hơn”, ông Thành nói.
Không chỉ mang ý nghĩa giáo dục, hoạt động du lịch còn tạo thêm nguồn thu để trang trại đầu tư dài hạn cho nông nghiệp hữu cơ và phục hồi sinh thái. Doanh thu bước đầu từ mảng nông nghiệp của Sản Việt Farm đạt khoảng 4–5 tỷ đồng. Sau 7 năm xây dựng, hoạt động nông nghiệp đã cơ bản tự cân đối thu chi; từ năm 2026, trang trại bước sang giai đoạn lợi nhuận tăng dần.
Không chỉ phát triển kinh tế cho chính mình, Sản Việt Farm còn định hướng chuyển giao kỹ thuật và liên kết sản xuất với người dân địa phương.
Đối với mô hình ong dú, trang trại xây dựng kế hoạch hỗ trợ sinh kế cho 20 hộ đồng bào dân tộc thiểu số thông qua chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ con giống và bao tiêu mật. Hai hộ đầu tiên tại xã Nam Ninh Hòa và Tây Ninh Hòa đã được bàn giao mỗi hộ 20 tổ ong giống.
Theo phương án thực hiện, các hộ hoàn trả một phần vốn ban đầu; phần còn lại được trả dần bằng sản phẩm sau khi mô hình tạo ra thu nhập. Cách làm này giúp người dân giảm áp lực đầu tư ban đầu, đồng thời gắn hỗ trợ kỹ thuật với đầu ra sản phẩm.
“Chúng tôi mong muốn người dân không chỉ nhận con giống rồi tự tìm cách sản xuất. Trang trại sẽ đồng hành về kỹ thuật và thu mua sản phẩm. Khi người dân có thu nhập ổn định, chuỗi liên kết mới có thể duy trì”, ông Thành chia sẻ.
Sản Việt Farm cũng định hướng chuyển giao một số loại cây trồng phù hợp với địa hình đồi dốc và điều kiện mùa mưa, đồng thời tổ chức thu mua nguyên liệu phục vụ chế biến. Khi người dân tham gia, vòng tuần hoàn được mở rộng từ phạm vi trang trại thành chuỗi liên kết giữa sản xuất, chế biến, tiêu thụ và phát triển sinh kế.
Từ thực tế tại Sản Việt Farm, ông Nguyễn Minh Thành cho rằng nông nghiệp tuần hoàn không nhất thiết phải bắt đầu bằng công nghệ phức tạp hay nguồn vốn quá lớn. Bước đầu tiên là phân loại đúng chất thải, tận dụng phụ phẩm và bố trí hợp lý cây trồng, vật nuôi; sau đó mới từng bước đầu tư công nghệ vi sinh, chế biến và bảo quản.
“Điều cần thay đổi trước hết là cách nhìn. Khi còn coi phụ phẩm là chất bỏ đi, chúng ta sẽ phải tốn tiền xử lý. Nhưng nếu biết cách đưa nó trở lại sản xuất, phụ phẩm có thể trở thành phân bón, thức ăn chăn nuôi và tạo thêm giá trị kinh tế”, ông Thành nói.
Từ vùng đồi hoang hóa, Sản Việt Farm đang từng bước hình thành mô hình nông nghiệp xanh, tuần hoàn bằng cách tái sử dụng phế, phụ phẩm nông nghiệp, đa dạng nguồn thu và gắn sản xuất với sinh kế cộng đồng.