Khoa học, công nghệ: Đưa nghiên cứu vào sản xuất nông nghiệp

Khoa học, công nghệ: Đưa nghiên cứu vào sản xuất nông nghiệp

Chủ nhật, 11/10/2026, 08:25 (GMT+7)
logo Giống mới được đưa vào đồng ruộng, quy trình kỹ thuật được chuyển giao cho doanh nghiệp, dữ liệu từng bước phục vụ quản lý chuỗi nông sản - Những kết quả này đã được Vụ Khoa học và Công nghệ báo cáo tại cuộc họp tháng 9 vừa qua cho thấy, hướng gắn nghiên cứu với sản xuất đang được cụ thể hóa, cùng với việc hoàn thiện cơ chế chuyển giao, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
khoa-hoc-ve-voi-ruong-lua_1791342066.png
Đưa tri thức xuống đồng ruộng, đưa giá trị khoa học vào từng mùa vụ. Ảnh: AI minh hoạ.

Các giống lúa dòng OM được ứng dụng rộng rãi trong Đề án một triệu héc ta lúa chất lượng cao tại Đồng bằng sông Cửu Long. Giống lạc đỏ chịu hạn được triển khai ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Trong thủy sản, kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh được chuyển đến cơ quan chuyên môn, người nuôi. Những công việc ấy phản ánh một yêu cầu xuyên suốt của ngành: nghiên cứu phải trả lời được bài toán của sản xuất, từ lựa chọn giống, tổ chức canh tác đến kiểm soát chất lượng và tiêu thụ sản phẩm.

Theo Báo cáo của Vụ Khoa học và Công nghệ tại buổi làm việc với Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp ngày 20/9/2026 về kết quả triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ các tháng đầu và kế hoạch các tháng cuối năm 2026, hoạt động nghiên cứu đã hình thành nhiều sản phẩm cụ thể, gồm giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản, giống lâm nghiệp; quy trình kỹ thuật; chế phẩm sinh học; vắc xin; thiết bị, phần mềm, cơ sở dữ liệu và giải pháp quản lý.

cuoc-hop-bao_1791344447.png
Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Văn Long báo cáo tại cuộc họp tháng 9/2026 về kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ.

Từ những kết quả được báo cáo, có thể nhìn rõ hơn mối liên hệ giữa đầu tư cho nghiên cứu và tổ chức ứng dụng. Một giống mới cần có đơn vị tiếp nhận, quy trình phù hợp và khả năng cung ứng. Một công nghệ cần được thử nghiệm trong điều kiện sản xuất. Một hệ thống dữ liệu cần có thông tin đủ tin cậy để phục vụ người sử dụng. Chính sách khoa học, công nghệ vì thế phải theo sát cả quá trình đưa sản phẩm nghiên cứu vào thực tiễn.

Vụ Khoa học và Công nghệ tham mưu triển khai Nghị quyết số 57: Gắn nghiên cứu với nhu cầu sản xuất, lấy hiệu quả ứng dụng làm thước đo giá trị khoa học.

Giống mới, kỹ thuật mới đi vào sản xuất

Cũng theo báo cáo của Vụ Khoa học và Công nghệ, trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật, năm 2026 đã công nhận và bảo hộ được khoảng 50 giống cây trồng mới và 64 quy trình kỹ thuật cấp cơ sở. Các công nghệ chỉnh sửa gen, ứng dụng trí tuệ nhân tạo kết hợp Internet vạn vật, cơ giới hóa canh tác và giải pháp giảm đầu vào hóa học đã được nghiên cứu, thử nghiệm.

Đáng chú ý là mối nối giữa kết quả chọn tạo giống với các chương trình sản xuất cụ thể. Báo cáo ghi nhận các giống lúa dòng OM được ứng dụng rộng rãi trong Đề án một triệu héc ta lúa chất lượng cao tại Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là thông tin cho thấy sản phẩm nghiên cứu đã có địa chỉ ứng dụng trong một đề án sản xuất quy mô lớn. Tuy nhiên, tài liệu chưa nêu diện tích sử dụng từng giống, nên cần hiểu đúng phạm vi kết quả được báo cáo, không đồng nhất quy mô đề án với diện tích đã gieo trồng giống OM.

Với người trồng lúa, giống là một lựa chọn đầu tiên của mỗi vụ sản xuất. Giá trị của giống cần được xem xét cùng khả năng thích ứng, quy trình canh tác, chất lượng hạt và yêu cầu thu mua. Việc đưa giống nghiên cứu trong nước vào chương trình sản xuất lúa chất lượng cao vì vậy có ý nghĩa thiết thực đối với tổ chức vùng nguyên liệu và phối hợp giữa đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân.

Trong chăn nuôi và thú y, các nhiệm vụ tập trung vào giống vật nuôi năng suất, chất lượng cao, công nghệ sinh sản, công nghệ sinh học và vắc xin. Các viện nghiên cứu tăng cường liên kết với doanh nghiệp, trang trại và địa phương để tiếp nhận, thử nghiệm, nhân rộng sản phẩm. Nhiều giống vật nuôi, mô hình chăn nuôi và quy trình kỹ thuật đã được đưa vào sản xuất thử nghiệm; một số kết quả sẵn sàng chuyển giao.

Cũng tại cuộc họp này, Vụ Khoa học và Công nghệ cho biết một số công nghệ vắc xin, chế phẩm sinh học và quy trình kỹ thuật đang được hoàn thiện để phục vụ đăng ký lưu hành, sản xuất thử nghiệm, chuyển giao. Cách xác định trạng thái của sản phẩm giúp nhìn đúng tiến độ, đồng thời làm rõ công việc phải tiếp tục thực hiện để kết quả nghiên cứu đáp ứng yêu cầu sử dụng trong sản xuất.

Với thủy sản, nghiên cứu được triển khai ở nhiều khâu, từ sản xuất giống, nuôi thương phẩm đến bảo quản sau thu hoạch và quản lý môi trường. Theo đó, công nghệ chọn giống hệ gen được áp dụng trên cá tra, tôm sú, tôm thẻ chân trắng; các viện nghiên cứu cung ứng giống cá tra, rô phi G9, cá lăng chấm chất lượng cao cho thị trường. Kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh được chuyển trực tiếp đến cơ quan chuyên môn, người nuôi, đồng thời tích hợp vào hệ thống quản lý.

Việc chuyển thông tin cảnh báo đến người nuôi cho thấy, một dạng ứng dụng có giá trị sử dụng trực tiếp. Người sản xuất đã biết theo dõi diễn biến môi trường, nguy cơ dịch bệnh để có căn cứ điều chỉnh hoạt động nuôi. Khi kết quả nghiên cứu được tổ chức thành dịch vụ thông tin thường xuyên, khoa học tham gia vào quyết định sản xuất hằng ngày, bên cạnh việc cung cấp giống và quy trình kỹ thuật.

Trong lâm nghiệp, việc thí điểm cấp mã số vùng trồng rừng nguyên liệu được thực hiện trên diện tích 25.503 ha tại 96 xã, với 20.202 mã được cấp. Nghiên cứu về giống, dữ liệu ADN, quản lý rừng trồng và các mô hình lâm sản ngoài gỗ đã hỗ trợ sản xuất, xây dựng chính sách. Kết quả năm 2025 với khoảng 677 ha mô hình lâm nghiệp được triển khai hoặc tiếp tục chăm sóc, theo dõi.

Những kết quả này đặt hoạt động nghiên cứu trong quan hệ với phát triển vùng nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ. Mã số vùng trồng cung cấp cơ sở để tổ chức thông tin về vùng nguyên liệu; mô hình gỗ lớn, lâm sản ngoài gỗ, cây đặc sản và dược liệu tạo điều kiện chuyển giao kỹ thuật tại địa bàn. Hiệu quả ứng dụng cần được theo dõi qua cả quá trình sản xuất, nhất là với đối tượng có chu kỳ dài như cây lâm nghiệp.

kiem-soat-va-truy-xuat-xoai_1791342140.png
Chất lượng làm nên giá trị, nguồn gốc minh bạch bồi đắp niềm tin. Ảnh: AI minh hoạ.

Chuyển giao gắn với doanh nghiệp và quyền sở hữu trí tuệ

Một thông tin đáng chú ý là kết quả khai thác sản phẩm nghiên cứu. Theo Báo cáo của Vụ Khoa học và Công nghệ ngày 20/9/2026, các đơn vị nghiên cứu trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật ghi nhận doanh thu trên 7,2 tỷ đồng từ cung ứng 400 tấn giống lúa và 4.000 cây ăn quả. Các đơn vị đồng thời thực hiện hợp đồng chuyển giao với một số doanh nghiệp như Orion, Nafoods và ThaiBinh Seed.

Các hợp đồng chuyển giao mở ra khả năng đưa giống và tiến bộ kỹ thuật vào hệ thống sản xuất của doanh nghiệp. Đơn vị nghiên cứu có năng lực chọn tạo, thử nghiệm; doanh nghiệp có điều kiện tổ chức sản xuất, cung ứng và tiếp cận thị trường. Sự phối hợp cần được xây dựng trên yêu cầu cụ thể của sản phẩm, để bên tiếp nhận có thể sử dụng kết quả trong điều kiện thực tế.

Cũng theo Vụ Khoa học và Công nghệ, hoạt động chuyển giao đang được thực hiện dưới nhiều hình thức: chuyển giao quyền sử dụng giống và quy trình kỹ thuật; hợp đồng tư vấn, phân tích, chuyển giao công nghệ; cung ứng sản phẩm giống; xây dựng mô hình trình diễn; tập huấn kỹ thuật và tích hợp dữ liệu vào hệ thống quản lý. Cách tổ chức đa dạng này phù hợp với đặc điểm của ngành, bởi một sản phẩm giống, một dịch vụ cảnh báo và một quy trình chế biến có phương thức ứng dụng khác nhau.

Quyền sở hữu trí tuệ là một nội dung cần được xử lý cùng quá trình chuyển giao. Theo đó, lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật đã nộp 24 hồ sơ bảo hộ giống cây trồng; các đơn vị có những bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích trong lĩnh vực sau thu hoạch và bảo vệ thực vật. Việc nộp hồ sơ bảo hộ cần được phân biệt với kết quả đã được cấp văn bằng.

Xác lập quyền đối với sản phẩm nghiên cứu tạo cơ sở để các bên thỏa thuận việc sử dụng và khai thác. Khi quyền, trách nhiệm và lợi ích được xác định rõ, đơn vị nghiên cứu có căn cứ ký kết hợp đồng, doanh nghiệp có căn cứ đầu tư tiếp nhận công nghệ, tác giả có cơ sở hưởng lợi từ kết quả lao động sáng tạo. Đây là những vấn đề cụ thể quyết định khả năng duy trì quan hệ hợp tác.

Vụ Khoa học và Công nghệ đã đưa ra định hướng tổ chức chuyển giao theo hướng xác định rõ chủ thể có quyền quản lý, sử dụng hoặc sở hữu kết quả; phương thức và giá chuyển giao; nghĩa vụ tài chính; cơ chế chia sẻ lợi ích và trách nhiệm theo dõi sau chuyển giao. Định hướng này cần được cụ thể hóa trong từng hồ sơ, hợp đồng và phương án khai thác sản phẩm.

Trách nhiệm theo dõi sau chuyển giao đặc biệt có ý nghĩa. Kết quả sử dụng tại doanh nghiệp, trang trại hay hợp tác xã giúp trả lời các câu hỏi: công nghệ có phù hợp điều kiện vận hành, người tiếp nhận có làm chủ được kỹ thuật, chất lượng sản phẩm có được duy trì. Thông tin ấy là căn cứ đánh giá hiệu quả đầu tư nghiên cứu và lựa chọn nhiệm vụ tiếp theo.

Theo báo cáo, năm 2026 triển khai 414 nhiệm vụ khoa học, công nghệ, gồm 151 nhiệm vụ mở mới và 263 nhiệm vụ triển khai từ trước năm 2026. Đến ngày 30/8/2026, đã tổ chức nghiệm thu 157 nhiệm vụ, gồm 147 nhiệm vụ kết thúc ngày 31/12/2025 và 10 nhiệm vụ kết thúc trước ngày 30/6/2026. Phân biệt thời điểm kết thúc với thời điểm nghiệm thu giúp nhìn đúng tiến độ của danh mục nhiệm vụ.

Cụ thể hóa Nghị quyết 57, Vụ Khoa học và Công nghệ thúc đẩy chuyển giao, hoàn thiện tiêu chuẩn và chuẩn hóa dữ liệu, tạo nền tảng nâng giá trị nông sản Việt.

Tiêu chuẩn và dữ liệu hỗ trợ nâng giá trị nông sản

Đưa giống và kỹ thuật mới vào sản xuất cần đi cùng khả năng kiểm soát chất lượng. Theo báo cáo của Vụ Khoa học và Công nghệ, năm 2026 Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai 152 nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn quốc gia và 5 nhiệm vụ xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Đến ngày 18/9/2026, đã hoàn thành công bố 64 tiêu chuẩn quốc gia, đề nghị công bố 11 tiêu chuẩn; đã thẩm định 36 tiêu chuẩn quốc gia và 3 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Các kết quả công bố, đề nghị công bố và thẩm định thuộc những bước xử lý khác nhau. Đối với sản xuất, điều cần quan tâm là yêu cầu chất lượng được xác định rõ, phương pháp kiểm tra có căn cứ và quy trình kỹ thuật có thể áp dụng thống nhất. Công tác tiêu chuẩn, quy chuẩn vì vậy gắn trực tiếp với khả năng sử dụng và mở rộng kết quả nghiên cứu.

Trong kế hoạch các tháng cuối năm, báo cáo của Vụ Khoa học và Công nghệ đã đặt nhiệm vụ rà soát tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy định liên quan đến nông sản chế biến, đặc biệt đối với cấp đông, chế biến, bảo quản. Đây là những khâu có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm sau thu hoạch. Việc rà soát nhằm xác định nội dung còn thiếu, chưa thống nhất để đề xuất hoàn thiện theo thẩm quyền, tạo cơ sở cho tổ chức sản xuất và kiểm soát chất lượng.

Bên cạnh đó, truy xuất nguồn gốc bổ sung một yêu cầu khác: thông tin về sản phẩm phải được ghi nhận và có thể kiểm tra. Theo báo cáo của Vụ Khoa học và Công nghệ, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản được công bố ngày 30/6/2026, chính thức đưa vào sử dụng từ ngày 1/7/2026. Đến ngày 20/9/2026, có 315.410 sản phẩm của 213 nông hộ và 26 doanh nghiệp tại 17 tỉnh, thành phố đăng ký truy xuất nguồn gốc. Trong số đó, 668 sản phẩm của 32 nông hộ và 11 doanh nghiệp tại 9 tỉnh, thành phố đã có đầy đủ thông tin để truy xuất.

Ở phạm vi lũy kế dữ liệu do các đơn vị cung cấp giải pháp và địa phương kết nối, cập nhật vào hệ thống của Bộ, báo cáo ghi nhận 820.723 sản phẩm của 3.030 nông hộ và 208 doanh nghiệp tại 28/34 tỉnh, thành phố đã đăng ký. Trong đó, 158.796 sản phẩm của 48 nông hộ và 20 doanh nghiệp tại 16 tỉnh đã thực hiện truy xuất nguồn gốc với đầy đủ thông tin. Hai nhóm số liệu có phạm vi thống kê khác nhau, cần được sử dụng riêng khi đánh giá kết quả.

Từ các số liệu này, vấn đề cần theo dõi là chất lượng thông tin và khả năng sử dụng dữ liệu. Đăng ký sản phẩm là bước tham gia hệ thống; thực hiện truy xuất với đầy đủ thông tin phản ánh mức độ hoàn thiện dữ liệu của sản phẩm. Việc phân biệt hai trạng thái giúp xác định công việc tiếp theo trong hướng dẫn người sản xuất, doanh nghiệp và đơn vị cung cấp giải pháp.

chung-nhan-che-huu-co_1791343894.jpg
Thu hái chè tại vùng nguyên liệu, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng góp phần nâng giá trị sản phẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường.

Báo cáo của Vụ Khoa học và Công nghệ cũng cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tiếp tục chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện tiêu chuẩn kết nối và mở rộng phạm vi áp dụng. Kế hoạch cuối năm tập trung xây dựng quy trình truy xuất theo từng nhóm sản phẩm, xác định dữ liệu tối thiểu, trách nhiệm của các chủ thể, lựa chọn sản phẩm và chuỗi ưu tiên để triển khai thực tế. Cách làm này đặt yêu cầu kỹ thuật trong điều kiện vận hành của từng chuỗi sản xuất.

Giống mới, quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và dữ liệu nguồn gốc có quan hệ với nhau trong quá trình nâng giá trị nông sản. Kết quả nghiên cứu tạo thêm lựa chọn cho sản xuất; chuyển giao giúp người sử dụng tiếp cận kỹ thuật; tiêu chuẩn hỗ trợ kiểm soát chất lượng; truy xuất cung cấp thông tin để kiểm tra sản phẩm. Hiệu quả của từng công việc cần được đánh giá trong sự phối hợp ấy.

Những kết quả được Vụ Khoa học và Công nghệ báo cáo cho thấy, các địa chỉ ứng dụng đã hiện diện trong đồng ruộng, trang trại, vùng nuôi và vùng nguyên liệu. Công việc tiếp theo là theo sát quá trình sử dụng, hoàn thiện cơ chế chuyển giao và tổ chức dữ liệu đủ tin cậy. Khi người sản xuất tiếp nhận được kỹ thuật, doanh nghiệp khai thác được sản phẩm nghiên cứu và cơ quan quản lý kiểm chứng được kết quả, đầu tư cho khoa học, công nghệ sẽ có thêm căn cứ thực tiễn để phát huy hiệu quả.
 

Hồng Minh