Đổi mới truyền thông thích ứng biến đổi khí hậu ĐBSCL

Đổi mới truyền thông thích ứng biến đổi khí hậu ĐBSCL

Thứ bảy, 5/9/2026, 07:58 (GMT+7)
logo Từ yêu cầu đưa tri thức khoa học đến gần hơn với người dân, đề tài nghiên cứu cấp quốc gia độc lập giai đoạn 2021-2025, do PGS, TS. Lương Khắc Hiếu - Học viện Báo chí và Tuyên truyền làm chủ nhiệm đã nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn truyền thông và khả năng ứng dụng công nghệ trong thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long. Công trình đề xuất hướng truyền thông dựa trên dữ liệu, lấy nhu cầu công chúng làm trung tâm, đồng thời chú trọng khả năng chuyển nhận thức thành hành động.
xam-nhap-man_1788420012.jpg
Khô hạn, không có nước ngọt, nông dân không thể tưới tiêu các loại cây ăn quả, cây hoa màu, lương thực,.. dẫn đến hệ quả việc sản xuất nông nghiệp bị trì trệ. Ảnh minh hoạ

Đồng bằng sông Cửu Long đang chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu và những thay đổi về điều kiện tự nhiên. Hạn hán, xâm nhập mặn, triều cường, sạt lở bờ sông, bờ biển cùng các hiện tượng thời tiết cực đoan ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, sinh kế và đời sống của người dân. Trong bối cảnh ấy, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục nghiên cứu, dự báo và xây dựng các công trình ứng phó. Một nhiệm vụ quan trọng khác là chuyển những kết quả khoa học thành thông tin chính xác, dễ hiểu và có khả năng hỗ trợ người dân lựa chọn phương án thích ứng.

Xuất phát từ yêu cầu đó, PGS, TS. Lương Khắc Hiếu làm chủ nhiệm cùng các cộng sự triển khai đề tài “Nghiên cứu đề xuất mô hình truyền thông tăng cường nhận thức về cơ hội từ quá trình chuyển đổi nhằm phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long, thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ”. Đây là đề tài có mã số ĐTĐL.XH12/22. Học viện Báo chí và Tuyên truyền là cơ quan chủ trì. Báo cáo sản phẩm khoa học của đề tài được hoàn thiện tại Hà Nội năm 2026.

Điểm đáng chú ý của công trình nằm ở cách đặt vấn đề. Nhóm nghiên cứu không chỉ xem xét việc truyền thông về hậu quả hoặc rủi ro khí hậu, mà còn hướng đến nâng cao nhận thức về những cơ hội hình thành trong quá trình chuyển đổi. Những cơ hội đó có thể đến từ việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, thay đổi phương thức sản xuất, tổ chức lại sinh kế, khai thác dữ liệu và sử dụng tài nguyên phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên. Truyền thông vì thế không chỉ làm nhiệm vụ cảnh báo mà còn phải giúp người dân hiểu cơ sở của sự chuyển đổi, nhận diện giải pháp và cân nhắc khả năng áp dụng.

Cách tiếp cận này phù hợp với đặc điểm của Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là một vùng rộng lớn, có sự khác biệt về sinh thái, nguồn nước, hạ tầng, ngành nghề và điều kiện sản xuất. Một thông điệp chung phát cho toàn vùng khó đáp ứng đầy đủ nhu cầu của từng địa phương và từng nhóm dân cư.

Người trồng lúa, hộ làm vườn, người nuôi thủy sản hay cộng đồng sống tại khu vực ven sông, ven biển có thể đối diện với những loại rủi ro khác nhau. Ngay trong cùng một ngành sản xuất, mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào vị trí địa lý, thời điểm mùa vụ, hệ thống thủy lợi và khả năng tiếp cận nguồn lực. Vì vậy, một cảnh báo xâm nhập mặn chỉ thực sự hữu ích khi làm rõ địa bàn, thời gian, mức độ ảnh hưởng và những hoạt động sản xuất cần lưu ý. Thông tin về mưa lớn, triều cường hoặc sâu bệnh cũng phải được đặt trong điều kiện cụ thể. Khi đó, dữ liệu khoa học mới có thể trở thành căn cứ hỗ trợ quyết định.

Đề tài đã đặt truyền thông trong mối quan hệ giữa thông tin, nhận thức và hành động. Công chúng không chỉ là đối tượng tiếp nhận cuối cùng mà còn là chủ thể cung cấp phản hồi để cơ quan truyền thông điều chỉnh nội dung. Đây là một điểm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Trong cách truyền thông một chiều, cơ quan cung cấp thông tin thường tập trung vào nội dung cần phổ biến. Với cách tiếp cận lấy công chúng làm trung tâm, quá trình truyền thông phải trả lời thêm các câu hỏi: người dân đang cần thông tin gì, tiếp nhận qua kênh nào, hiểu đến đâu và có thể vận dụng như thế nào.

Đối với biến đổi khí hậu, những câu hỏi này đặc biệt quan trọng. Thông tin khí tượng, thủy văn hoặc nông nghiệp có thể chính xác về chuyên môn nhưng vẫn khó tạo ra tác động nếu cách diễn đạt quá phức tạp hoặc không gắn với hoàn cảnh của người tiếp nhận. Ngược lại, nội dung dễ hiểu nhưng lược bỏ những điều kiện khoa học quan trọng có thể dẫn đến nhận thức sai. Bài toán của truyền thông là bảo đảm đồng thời tính chính xác, kịp thời, dễ tiếp nhận và khả năng áp dụng.

Xây dựng mô hình truyền thông dựa trên dữ liệu

Một trong những hàm lượng khoa học quan trọng của đề tài là nghiên cứu khung lý thuyết cho mô hình truyền thông tăng cường nhận thức nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ. Khung lý thuyết giúp nhận diện các thành tố của quá trình truyền thông, gồm chủ thể cung cấp thông tin, nội dung thông điệp, phương thức thể hiện, kênh truyền tải, đặc điểm công chúng, phản hồi và khả năng thay đổi nhận thức, hành vi.

Trong cấu trúc này, người dân không được xem là nhóm tiếp nhận thụ động. Ý kiến, nhu cầu, kinh nghiệm và phản ứng của cộng đồng trở thành nguồn thông tin để tiếp tục hoàn thiện sản phẩm truyền thông. Quá trình truyền thông vì thế có tính hai chiều và được điều chỉnh theo thực tế.

Việc xây dựng khung lý thuyết có ý nghĩa bởi công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong một cấu trúc truyền thông rõ ràng. Nếu không xác định được mục tiêu, đối tượng và tiêu chí đánh giá, việc đưa thêm các công cụ kỹ thuật vào quá trình sản xuất chưa chắc nâng cao chất lượng thông tin.

Bên cạnh nghiên cứu lý luận, các thành viên đề tài đã phân tích khung nội dung và hình thức thể hiện thông điệp về biến đổi khí hậu trên truyền hình khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Hướng nghiên cứu này góp phần nhận diện cách các cơ quan truyền thông lựa chọn vấn đề, xây dựng thông điệp và tổ chức sản phẩm.

Đề tài cũng xem xét hoạt động truyền thông về cơ hội phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trên báo chí Việt Nam. Qua đó, công trình đặt ra yêu cầu kết nối nguồn tri thức khoa học với quá trình tiếp nhận và hành động của xã hội.

Một sản phẩm đáng chú ý trong hệ thống kết quả của đề tài là nghiên cứu đề xuất mô hình bốn lớp ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong cá nhân hóa sản xuất nội dung truyền hình về biến đổi khí hậu. Bài báo về mô hình này do ThS. Hồ Xuân Ngọc, thành viên đề tài, thực hiện và đăng trên Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, số chuyên đề 4/2025. Nghiên cứu hướng tới công chúng là nông dân Đồng bằng sông Cửu Long, trên cơ sở tham khảo một số kinh nghiệm ứng dụng công nghệ trong và ngoài nước.

Mô hình được đề xuất gồm bốn lớp chức năng liên kết với nhau: dữ liệu đầu vào; phân tích dữ liệu; sản xuất nội dung; phân phối và tương tác với công chúng. Lớp thứ nhất là dữ liệu đầu vào, giữ vai trò nền tảng. Các nhóm dữ liệu dự kiến bao gồm thông tin khí hậu, thủy văn, dữ liệu sản xuất nông nghiệp, đặc điểm địa phương và hành vi tiếp nhận của công chúng. Dữ liệu khí hậu, thủy văn có thể gồm lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, độ mặn, triều cường và các chỉ số cảnh báo sớm. Dữ liệu nông nghiệp liên quan đến giống cây trồng, lịch thời vụ, sâu bệnh, giá vật tư và thị trường đầu ra. Dữ liệu địa phương có thể phản ánh đặc điểm đất, nước, địa hình, hệ thống thủy lợi, khu vực ven sông hoặc cửa biển. Trong khi đó, dữ liệu công chúng giúp nhận diện độ tuổi, trình độ, thiết bị thường sử dụng, thói quen theo dõi thông tin và mức độ phản hồi.

Việc kết hợp các nhóm dữ liệu giúp cơ quan truyền thông hiểu rõ hơn người dân đang đối diện với nguy cơ nào và cần được cung cấp thông tin theo hình thức nào. Đây là điều kiện để nội dung được xây dựng theo địa bàn và nhóm đối tượng, thay vì chỉ phát đi một thông điệp đại trà. Tuy nhiên, thu thập và sử dụng dữ liệu công chúng phải đi cùng yêu cầu bảo vệ thông tin cá nhân. Dữ liệu cần được quản lý an toàn, phân quyền tiếp cận và sử dụng đúng mục đích. Đây là nguyên tắc không thể xem nhẹ khi xây dựng hệ thống truyền thông dựa trên dữ liệu.

Lớp thứ hai là phân tích dữ liệu. Trong cấu trúc được đề xuất, các công cụ tính toán có thể hỗ trợ dự báo rủi ro khí hậu - nông nghiệp, phân nhóm công chúng và đánh giá hiệu quả tiếp nhận thông điệp.

Thông tin về lượng mưa, độ mặn, triều cường, mực nước hoặc nguy cơ sâu bệnh có thể được xử lý để xây dựng nội dung theo từng khu vực. Thay vì phát một cảnh báo chung, cơ quan truyền thông có thể cung cấp thông tin sát hơn với từng huyện, xã hoặc vùng sản xuất.

Việc phân nhóm công chúng cho phép cùng một nội dung khoa học được thể hiện thành nhiều phiên bản. Người quen sử dụng điện thoại thông minh có thể tiếp nhận bản đồ, đồ họa và video ngắn. Người cao tuổi hoặc cộng đồng tại khu vực hạn chế Internet có thể phù hợp hơn với truyền hình, phát thanh và tin nhắn.

Một nội dung khác của lớp phân tích là đo lường hiệu quả sau khi thông tin được phát đi. Tiêu chí không nên chỉ dừng ở số lượt xem hoặc phạm vi tiếp cận mà cần đánh giá người dân có hiểu, ghi nhớ và thực hiện khuyến nghị hay không. Đây là cách đánh giá sát hơn với mục tiêu của truyền thông thích ứng. Một chương trình có nhiều người xem nhưng công chúng không hiểu nội dung hoặc không thể vận dụng thì chưa chắc đạt hiệu quả thực chất.

Lớp thứ ba là sản xuất nội dung. Kết quả phân tích được chuyển thành các sản phẩm truyền hình và nội dung đa nền tảng phù hợp với từng nhóm công chúng. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ xây dựng các phiên bản kịch bản, trực quan hóa dữ liệu, tạo phụ đề, chuyển văn bản thành giọng nói và phát hiện một số lỗi trong quá trình biên tập. Việc hỗ trợ này có thể rút ngắn thời gian xử lý, nhất là khi cơ quan truyền thông phải sản xuất nhiều phiên bản từ cùng một nguồn dữ liệu.

Nghiên cứu gợi mở một số định dạng ngắn, trực quan và tập trung vào hành động. Bản tin “3 phút - 3 việc cần làm” có thể tóm tắt nguy cơ cùng các khuyến nghị. Bản đồ hành động theo địa bàn giúp người dân nhận diện khu vực chịu ảnh hưởng. Tọa đàm ngắn hoặc video hướng dẫn từ 90 đến 120 giây có thể giải thích một biện pháp cụ thể.

Những định dạng này phù hợp với nhu cầu tiếp nhận nhanh nhưng không được làm giảm độ chính xác. Dữ liệu khí hậu, thông tin mùa vụ, cảnh báo sâu bệnh và các khuyến nghị liên quan đến sản xuất phải được chuyên gia hoặc cơ quan có thẩm quyền kiểm tra trước khi công bố.

Trí tuệ nhân tạo chỉ đóng vai trò hỗ trợ, không thay thế trách nhiệm của con người. Nhà báo, biên tập viên và cơ quan truyền thông vẫn phải chịu trách nhiệm về nguồn tin, số liệu, ngữ cảnh và tác động xã hội của sản phẩm.

Nếu dữ liệu đầu vào thiếu chính xác hoặc không được cập nhật, công cụ phân tích có thể tạo ra kết quả sai lệch. Nếu nội dung được tự động tạo ra nhưng không qua thẩm định, sai sót có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định sản xuất và đời sống của người dân.

Lớp thứ tư là phân phối và tương tác với công chúng. Mô hình đặt ra yêu cầu đưa thông tin đến người dân qua nhiều nền tảng và loại thiết bị khác nhau. Bên cạnh chương trình truyền hình, nội dung có thể được phổ biến qua phát thanh, mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin, tệp âm thanh hoặc tin nhắn điện thoại. Việc lựa chọn kênh phải dựa trên hạ tầng, thói quen và khả năng sử dụng thiết bị của từng nhóm.

Tại những địa bàn kết nối Internet hạn chế, video dung lượng lớn không phải lựa chọn phù hợp. Nội dung khi đó cần được chuyển thành bản tin phát thanh, tệp âm thanh hoặc cảnh báo ngắn. Cách tổ chức này giúp giảm nguy cơ một bộ phận người dân bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số.

Tương tác hai chiều là thành phần quan trọng của lớp thứ tư. Người dân có thể gửi câu hỏi, phản ánh tình hình hoặc nêu khó khăn trong quá trình áp dụng khuyến nghị. Phản hồi được tổng hợp để cơ quan truyền thông biết nội dung nào chưa rõ, vấn đề nào đang được quan tâm và giải pháp nào khó thực hiện. Thông tin phản hồi sau đó được đưa trở lại lớp dữ liệu, tạo thành một chu trình liên tục. Sản phẩm truyền thông không kết thúc sau khi phát sóng mà tiếp tục được đánh giá, bổ sung và điều chỉnh.

Bốn lớp tạo nên mối liên hệ giữa dữ liệu, phân tích, sản xuất, phân phối và phản hồi. Giá trị của mô hình không nằm ở việc sử dụng thật nhiều công cụ, mà ở khả năng tổ chức quá trình truyền thông một cách có hệ thống.

Cách tiếp cận này giúp chuyển từ sản xuất nội dung đại trà sang phục vụ nhu cầu cụ thể. Thay vì bắt đầu bằng câu hỏi cơ quan truyền thông muốn nói gì, quy trình còn phải trả lời công chúng cần biết gì, tiếp nhận bằng cách nào và có thể hành động ra sao.

Đây là đóng góp đáng chú ý về mặt nghiên cứu. Mô hình kết nối lý luận truyền thông, nghiên cứu công chúng, khoa học dữ liệu và quy trình sản xuất báo chí. Sự kết hợp liên ngành phù hợp với bản chất phức tạp của truyền thông biến đổi khí hậu.

dsc_7530_1788420327.jpg
Năm 2024, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Học viện Chính trị Khu vực IV tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của mô hình truyền thông tăng cường nhận thức về cơ hội từ quá trình chuyển đổi nhằm phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ". Ảnh tư liệu

Giá trị ứng dụng và điều kiện triển khai thực tế

Tính ứng dụng của đề tài trước hết thể hiện ở khả năng hỗ trợ cơ quan báo chí, đài phát thanh - truyền hình và đơn vị quản lý tổ chức lại hoạt động truyền thông về biến đổi khí hậu. Thay vì chỉ sản xuất nội dung theo kế hoạch định kỳ, cơ quan truyền thông có thể dựa trên dữ liệu mới, nguy cơ tại từng địa bàn và phản hồi của cộng đồng. Thông tin nhờ đó có khả năng sát hơn với nhu cầu thực tế.

Đối với người dân, mô hình có thể góp phần rút ngắn khoảng cách giữa dữ liệu khoa học và quyết định sản xuất. Một chỉ số về độ mặn chỉ phát huy giá trị khi được diễn giải thành thông tin về khu vực, thời gian và hoạt động cần lưu ý.

Đối với cơ quan quản lý, phản hồi của người dân có thể cung cấp thêm căn cứ để nhận diện vấn đề đang phát sinh. Những câu hỏi được lặp lại nhiều lần cũng cho thấy nội dung nào chưa được giải thích đầy đủ hoặc chính sách nào gặp trở ngại khi triển khai.

Đề tài không chỉ nói đến khả năng công nghệ mà còn xem xét điều kiện tài chính và năng lực vận hành của các cơ quan truyền thông địa phương. Nghiên cứu về mô hình bốn lớp đã phân tích chi phí của những nhóm công cụ dự kiến sử dụng. Một số thuật toán và thư viện phần mềm có thể được tiếp cận dưới dạng mã nguồn mở, giúp giảm chi phí bản quyền. Tuy nhiên, phần mềm miễn phí không đồng nghĩa toàn bộ quá trình triển khai không phát sinh kinh phí.

Cơ quan sử dụng vẫn phải tính đến máy chủ, lưu trữ, điện toán đám mây, bảo trì, làm sạch dữ liệu và nhân lực chuyên môn. Chi phí đào tạo người sử dụng và kiểm tra chất lượng sản phẩm cũng là những khoản không thể bỏ qua.

Vì vậy, nghiên cứu đề xuất hướng triển khai kết hợp. Đơn vị có thể tận dụng công cụ mã nguồn mở cho những nhiệm vụ phù hợp; chỉ sử dụng dịch vụ thương mại khi cần thiết và có hiệu quả rõ ràng; đồng thời thuê ngoài theo dự án đối với công việc không diễn ra thường xuyên. Các cơ quan truyền thông địa phương không nhất thiết xây dựng ngay một hệ thống hoàn chỉnh. Việc triển khai có thể bắt đầu từ những nhiệm vụ gần với hoạt động hiện có như tạo phụ đề, chuyển văn bản thành giọng nói, xây dựng bản đồ cảnh báo hoặc tổng hợp phản hồi. Sau khi tích lũy đủ dữ liệu và kinh nghiệm vận hành, đơn vị mới mở rộng sang dự báo, phân nhóm công chúng và cá nhân hóa ở mức sâu hơn. Cách làm từng bước giúp giảm áp lực đầu tư và hạn chế rủi ro.

Một điều kiện quan trọng khác là chất lượng dữ liệu. Thông tin về khí hậu, thủy văn và nông nghiệp phải được cập nhật, có nguồn rõ ràng và phù hợp với từng địa bàn. Dữ liệu thu thập từ mạng xã hội hoặc phản ánh của người dân cần được kiểm tra trước khi sử dụng.

Việc triển khai cũng đòi hỏi cơ chế phối hợp giữa cơ quan báo chí với đơn vị khí tượng, thủy văn, nông nghiệp, cơ quan quản lý và chính quyền địa phương. Không một cơ quan riêng lẻ nào có thể tự xây dựng đầy đủ tất cả nguồn dữ liệu cần thiết.

Đội ngũ thực hiện phải có khả năng làm việc liên ngành. Nhà báo hiểu cách xây dựng thông điệp nhưng có thể không chuyên sâu về khí tượng hoặc phân tích dữ liệu. Chuyên gia công nghệ có thể vận hành hệ thống nhưng chưa chắc nắm rõ nhu cầu của người dân. Do đó, cần có quy trình phân công và kiểm chứng rõ ràng. Dữ liệu do đơn vị chuyên môn cung cấp; nhà báo chuyển hóa thành thông tin; chuyên gia kiểm tra khuyến nghị; bộ phận công nghệ hỗ trợ sản xuất và phân phối; địa phương tiếp nhận, phản hồi kết quả.

Bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng là điều kiện bắt buộc. Khi hệ thống thu thập thông tin về đặc điểm và hành vi của công chúng, phải xác định rõ mục đích, phạm vi sử dụng, thời gian lưu trữ và quyền tiếp cận.

Về kết quả khoa học, báo cáo ghi nhận 5 bài báo được đăng trên các tạp chí trong nước. Nội dung tập trung vào mô hình bốn lớp ứng dụng trí tuệ nhân tạo; phân tích khung nội dung và hình thức thể hiện thông điệp; khung lý thuyết của mô hình truyền thông; những quan niệm bước đầu và hoạt động truyền thông về cơ hội phát triển bền vững trên báo chí Việt Nam.

Đề tài còn gắn nghiên cứu với đào tạo một luận án tiến sĩ và 04 luận văn thạc sĩ. Các hướng đào tạo gồm hiệu quả tiếp nhận thông điệp biến đổi khí hậu; quản lý thông tin khoa học và công nghệ; quản trị nội dung; thông tin về ứng dụng khoa học và công nghệ; hoạt động truyền thông thích ứng trên báo chí.

Trong đó, luận án “Hiệu quả tiếp nhận thông điệp về biến đổi khí hậu trên truyền hình của nông dân Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” đã được bảo vệ cấp Học viện ngày 24/8/2026. Hệ thống sản phẩm cho thấy, đề tài không dừng ở một mô hình đơn lẻ. Công trình đã hình thành hướng nghiên cứu liên kết giữa truyền thông biến đổi khí hậu, nghiên cứu công chúng, ứng dụng công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.

Ý nghĩa của công trình do PGS, TS. Lương Khắc Hiếu làm chủ nhiệm nằm ở cách kết nối tri thức khoa học với nhu cầu thích ứng của cộng đồng. Đề tài cho thấy, truyền thông về biến đổi khí hậu cần vượt ra ngoài nhiệm vụ phổ biến kiến thức. Theo đó, thông tin phải giúp người dân nhận diện nguy cơ, hiểu cơ hội chuyển đổi và lựa chọn phương án phù hợp với điều kiện của mình. Điều đó đòi hỏi nội dung có căn cứ khoa học, được diễn đạt rõ ràng, chuyển tải qua kênh thích hợp và có cơ chế tiếp nhận phản hồi. Giá trị khoa học của đề tài được thể hiện qua việc xây dựng cơ sở lý luận, nghiên cứu nội dung truyền thông, đặt công chúng vào vị trí trung tâm và đề xuất một cấu trúc ứng dụng công nghệ theo chu trình hoàn chỉnh. Tính ứng dụng nằm ở khả năng chuyển dữ liệu khí hậu, nông nghiệp và phản hồi xã hội thành sản phẩm truyền thông có địa chỉ, có thời điểm và hướng đến hành động. Mô hình đồng thời tính đến khác biệt về thiết bị, hạ tầng và khả năng tiếp nhận của các nhóm dân cư.

Truyền thông không thể thay thế các giải pháp về quy hoạch, hạ tầng, sản xuất hoặc an sinh xã hội. Nhưng truyền thông có thể giúp những giải pháp ấy đến đúng người, được hiểu đúng và được vận dụng phù hợp. Đó là đóng góp đáng ghi nhận của công trình nghiên cứu: đặt truyền thông vào vị trí cầu nối giữa dữ liệu khoa học, chính sách, công nghệ và đời sống. Khi cầu nối ấy được xây dựng trên thông tin chính xác, có phản hồi và tôn trọng đặc điểm công chúng, truyền thông có thể trở thành một thành tố thiết thực trong quá trình thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Hồng Minh