Krông Pắc: Đơn giản thủ tục, nâng trách nhiệm với vùng trồng

Krông Pắc: Đơn giản thủ tục, nâng trách nhiệm với vùng trồng

Thứ năm, 8/10/2026, 05:55 (GMT+7)
logo Thủ tục đăng ký mã số thuận lợi hơn, nhưng yêu cầu về chất lượng và truy xuất nguồn gốc vẫn đặt ra trách nhiệm cụ thể với vùng trồng, cơ sở đóng gói. Thực tiễn tại Krông Pắc cho thấy rõ sự gắn kết này.

Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Lại Đức Đại, Chủ tịch UBND xã Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk và ông Trần Văn Thắng, đại diện HTX Nông nghiệp Xanh, về thực tiễn triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP tại địa phương.

1791270855412_5148762147199949062_5148762147199949062_7ebf86d06a8fa3105add537e7b7bece3_1791339954.jpg
Ông Lại Đức Đại, Chủ tịch UBND xã Krông Pắc.

Phóng viên: Thưa ông Lại Đức Đại, xã Krông Pắc đã triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP như thế nào để người dân thuận lợi hơn khi đăng ký mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói? Trách nhiệm của các chủ thể được địa phương hướng dẫn ra sao?

Ông Lại Đức Đại: UBND xã đã tuyên truyền, triển khai hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; hướng dẫn các tổ chức, cá nhân, hộ dân, tổ hợp tác và hợp tác xã nộp hồ sơ trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia theo đúng quy định. Đồng thời, xã phân công cán bộ đầu mối hỗ trợ người dân kê khai thông tin, chuẩn hóa hồ sơ, hạn chế việc đi lại nhiều lần, giảm thời gian và chi phí tuân thủ. Việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ được thực hiện công khai, minh bạch, đúng thời hạn và đúng thẩm quyền cấp xã.

Đối với các chủ thể vùng trồng và cơ sở đóng gói, xã tuyên truyền rõ quan điểm: tổ chức, cá nhân tự kê khai và tự chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác, trung thực của thông tin đăng ký mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Cùng với đó, địa phương vận động người dân tham gia liên kết sản xuất, thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã để hình thành vùng nguyên liệu tập trung, thống nhất quy trình canh tác, ghi chép nhật ký canh tác và quản lý vật tư đầu vào, phục vụ truy xuất nguồn gốc.

1791270855449_5148762147199949062_5148762147199949062_98321212c67c172987835bb362ab4b8f_1791340172.jpg
Ông Vạn Vĩnh Cương (bên phải) - đại diện doanh nghiệp Trung Quốc ghi nhận chất lượng sầu riêng Đắk Lắk.

Phóng viên: Khi thủ tục được đơn giản hóa, công tác kiểm tra, giám sát được xã tổ chức như thế nào? Việc hậu kiểm các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số và kiểm tra hồ sơ đề nghị cấp mới để xuất khẩu được thực hiện ra sao, thưa ông?

Ông Lại Đức Đại: Các cơ quan chuyên môn của xã đã phối hợp với cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thực hiện hậu kiểm các vùng trồng, cơ sở đóng gói; đối chiếu thông tin kê khai và hướng dẫn khắc phục những điểm chưa phù hợp.

Tuy nhiên, công tác hậu kiểm được thực hiện đối với các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số. Đối với các vùng trồng, cơ sở đóng gói đề nghị cấp mới, kể từ khi Nghị quyết có hiệu lực, những hồ sơ tiếp nhận mới trên Cổng Dịch vụ công đều là hồ sơ đề nghị xuất khẩu. Vì vậy, các phòng chuyên môn vẫn phải thực hiện tiền kiểm trước khi ra thông báo.

1791270855516_5148762147199949062_5148762147199949062_0a5b0f442d69b7a6ebee1166d8cd23e1_1791340286.jpg
Công đoạn quạt làm khô cuống và bề mặt quả tại kho trước khi đóng gói

Phóng viên: Qua quá trình triển khai, ông đánh giá những chuyển biến rõ nét nhất trong giải quyết thủ tục, ý thức tuân thủ của các chủ thể và công tác quản lý tại địa phương là gì, thưa ông?

Ông Lại Đức Đại: Qua quá trình triển khai, tôi đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP đã mang lại một số hiệu quả rõ nét:

Thủ tục gọn hơn, nhanh hơn, tạo thuận lợi cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp khi đăng ký mã số.

Ý thức tuân thủ của các chủ thể từng bước được nâng lên, nhất là trong kê khai thông tin, tổ chức sản xuất và chuẩn hóa quy trình để đáp ứng yêu cầu thị trường.

Công tác quản lý nhà nước chuyển mạnh sang hậu kiểm, giúp địa phương vừa tạo điều kiện phát triển sản xuất, vừa kịp thời chấn chỉnh những trường hợp thực hiện chưa đúng, hạn chế rủi ro ảnh hưởng đến thương hiệu sầu riêng của địa phương.

Phóng viên: Những khó khăn nào cần tiếp tục tháo gỡ để việc thực hiện Nghị quyết đi vào thực chất? UBND xã sẽ hỗ trợ người dân và các đơn vị sản xuất như thế nào trong thời gian tới thưa ông?

Ông Lại Đức Đại: Chúng tôi cũng thẳng thắn nhìn nhận quá trình triển khai vẫn còn một số khó khăn, như kỹ năng số của một bộ phận người dân, việc chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng theo mã định danh thửa đất và quy trình canh tác... Trong thời gian tới, UBND xã sẽ tiếp tục phối hợp với cơ quan chuyên môn cấp tỉnh tổ chức tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật và cập nhật hướng dẫn, bảo đảm thực hiện đúng quy định và đáp ứng yêu cầu thị trường.

1791270855481_5148762147199949062_5148762147199949062_e218b6f964feeca5da6ff3bb16f48f4d_1791340345.jpg
Công đoạn kiểm tra, phân loại sầu riêng

Phóng viên: Thưa ông Trần Văn Thắng, từ thực tiễn thu mua, chế biến và xuất khẩu sầu riêng, việc đơn giản hóa thủ tục theo Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP tác động như thế nào đến xây dựng vùng nguyên liệu? Cơ chế hậu kiểm và tự chịu trách nhiệm đặt ra yêu cầu gì đối với HTX và người sản xuất?

Ông Trần Văn Thắng: Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP giúp việc xây dựng vùng trồng và đăng ký mã số dễ dàng, thuận lợi và nhanh hơn. Tuy nhiên, yêu cầu hậu kiểm và tự chịu trách nhiệm cũng tạo áp lực cho đơn vị xây dựng vùng nguyên liệu, bởi bà con nông dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của người sản xuất trong việc bảo đảm sản phẩm sạch, an toàn vệ sinh thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Việc triển khai Nghị quyết trong nông nghiệp cần gắn với chuỗi từ sản xuất đến xuất khẩu, hướng tới sản phẩm có chất lượng rõ rệt trong chặng đường tiếp theo. HTX và người dân trực tiếp sản xuất trên vùng trồng của mình cùng đóng vai trò bảo đảm đầu ra với những sản phẩm có chất lượng. Chính vì vậy, hiện nay HTX cần tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền để nâng cao ý thức của người dân, bảo đảm thực hiện đúng, đủ các yêu cầu và tự chịu trách nhiệm trong vùng sản xuất của mình.

Phóng viên: Để vùng sầu riêng có mã số đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, những yêu cầu nào về chất lượng sản phẩm, quy trình canh tác, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và truy xuất nguồn gốc cần được chú trọng? HTX đang triển khai những hướng đi nào để nâng chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm thưa ông?

Ông Trần Văn Thắng: Thực tế, khi liên kết, doanh nghiệp cũng gặp khó khăn trong việc đưa ra các yêu cầu về chất lượng sản phẩm và quy trình sản xuất. Tuy nhiên, bảo đảm chất lượng sản phẩm, không bị sượng, không nhiễm các chất cấm là yêu cầu tối thiểu để doanh nghiệp có thể xuất khẩu sầu riêng tươi ra nước ngoài.

1791270855558_5148762147199949062_5148762147199949062_6568607ed770225328548acdbd9f078d_1791340448.jpg
Cây sầu riêng BlackThorn của HTX Nông nghiệp Xanh đang được chăm sóc theo đúng quy trình.

Mặt khác, để thực hiện đúng và đầy đủ quy trình sản xuất, HTX và bà con nông dân phải nhận thức rõ tầm quan trọng của việc tuân thủ, thay đổi thói quen ghi chép nhật ký sản xuất, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng liều lượng, đúng loại theo quy định của cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, nhằm đa dạng hóa sản phẩm sầu riêng, đáp ứng nhu cầu thị trường, HTX đang xuống giống hơn 1.000 cây BlackThorn trên diện tích hơn 8 ha, dự kiến bắt đầu thu hoạch từ năm 2029. Đối với HTX Nông nghiệp Xanh, đây là bước đột phá mà chúng tôi đang kỳ vọng ở mùa thu hoạch đầu tiên.

 

Hồng Hải