Để một kết quả giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ trở thành tín chỉ có thể giao dịch, dự án các-bon rừng phải trải qua một quy trình chặt chẽ, từ chuẩn bị hồ sơ, đo đạc đến thẩm định, xác minh và phát hành.
Sau khi TCVN 14682:2026 “Tín chỉ các-bon rừng - Các yêu cầu” được công bố, câu hỏi được nhiều chủ rừng và doanh nghiệp quan tâm là phải bắt đầu từ đâu để hình thành một dự án các-bon rừng.
Điểm khởi đầu không nằm ở việc ước tính khu rừng đang hấp thụ bao nhiêu khí CO₂, càng không thể chỉ dựa vào diện tích rừng hay số lượng cây hiện có. Trước khi tính toán lượng các-bon, chủ dự án phải làm rõ hàng loạt vấn đề về pháp lý, ranh giới, hiện trạng rừng, quyền thực hiện dự án và quyền hưởng lợi từ kết quả giảm phát thải.
Theo TCVN 14682:2026, tín chỉ các-bon rừng phải được tạo ra từ dự án hợp lệ trong lĩnh vực lâm nghiệp và sử dụng đất. Dự án phải tuân thủ quy định về xây dựng, đăng ký dự án, tiêu chuẩn các-bon và phương pháp được áp dụng.
Như vậy, khu rừng có tiềm năng hấp thụ và lưu giữ các-bon mới chỉ là điều kiện ban đầu. Khả năng phát triển dự án còn phụ thuộc vào tình trạng pháp lý của đất và rừng, loại rừng, chủ thể quản lý, lịch sử sử dụng đất, hoạt động lâm sinh dự kiến và khả năng chứng minh phần giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ do dự án tạo ra.
Việc xác định rõ quyền đối với đất, rừng và kết quả giảm phát thải có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một dự án có thể kéo dài trong nhiều năm, liên quan đến chủ rừng, cộng đồng dân cư, đơn vị phát triển dự án, tổ chức tư vấn, bên thẩm định, xác minh và người mua tín chỉ. Nếu quyền và nghĩa vụ của các bên không được làm rõ ngay từ đầu, tranh chấp có thể phát sinh khi dự án bắt đầu tạo ra nguồn thu.
Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, pháp luật hiện hành phân định chủ thể đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng tùy theo cơ quan hoặc chủ thể thực hiện dự án. Chủ rừng thực hiện dự án được sở hữu kết quả giảm phát thải và tín chỉ do dự án tạo ra theo quy định. Chủ rừng cũng được hợp tác, liên kết với tổ chức, cá nhân để xây dựng dự án, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ và chia sẻ kết quả.
Quy định này mở ra cơ hội huy động nguồn lực xã hội cho các dự án các-bon rừng, nhưng cũng đòi hỏi hợp đồng hợp tác phải chặt chẽ. Các bên cần thống nhất phạm vi công việc, chi phí đầu tư, quyền tiếp cận dữ liệu, trách nhiệm quản lý rủi ro, tỷ lệ chia sẻ tín chỉ hoặc doanh thu và cách xử lý trong trường hợp dự án không tạo ra lượng tín chỉ như kỳ vọng.
Sau khi những điều kiện pháp lý được xác định, dự án cần khoanh định ranh giới cụ thể. Ranh giới không chỉ là đường bao trên bản đồ mà còn là cơ sở để thu thập dữ liệu, kiểm soát biến động rừng và xác định những nguồn phát thải, bể các-bon liên quan.
Dữ liệu hiện trạng phải phản ánh được loại rừng, diện tích, trữ lượng, trạng thái thảm thực vật, lịch sử quản lý, nguy cơ mất rừng hoặc suy thoái rừng và những hoạt động kinh tế - xã hội có liên quan. Dữ liệu càng thiếu hoặc không đồng nhất, mức độ không chắc chắn của kết quả tính toán càng lớn.
Từ điều kiện cụ thể, dự án được xác định thuộc một trong năm nhóm: REDD+; trồng rừng mới, tái trồng rừng hoặc xúc tiến tái sinh tự nhiên - A/R; cải thiện quản lý rừng tự nhiên - IFM-N; cải thiện quản lý rừng trồng - IFM-P; canh tác nông lâm kết hợp và cây phân tán - AFP.
Mỗi nhóm dự án có mục tiêu, biện pháp can thiệp, nguồn phát thải và phương pháp giám sát khác nhau. Một dự án REDD+ tập trung ngăn chặn mất rừng, suy thoái rừng sẽ không thể sử dụng hoàn toàn cách tiếp cận của dự án trồng rừng mới. Tương tự, dự án kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng trồng phải xem xét cả lượng các-bon được duy trì thêm và những thay đổi trong hoạt động khai thác, sử dụng đất.
Một nội dung mang tính quyết định là thiết lập mức tham chiếu. Đây có thể hiểu là kịch bản phát thải hoặc hấp thụ dự kiến nếu dự án không được thực hiện. Kết quả của dự án sẽ được so sánh với mức tham chiếu để xác định lượng giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ thực sự tạo ra.
Nếu mức tham chiếu bị xây dựng cao hơn thực tế, lượng tín chỉ có thể bị thổi phồng. Ngược lại, mức tham chiếu thiếu dữ liệu hoặc không phản ánh đúng điều kiện địa phương sẽ làm giảm độ tin cậy của dự án. Vì thế, việc lựa chọn giai đoạn dữ liệu, nguồn dữ liệu và phương pháp xây dựng mức tham chiếu phải được giải trình rõ ràng.
Song song với đó, dự án phải chứng minh tính bổ sung. Chủ dự án cần chỉ ra rằng những kết quả được đề nghị cấp tín chỉ xuất hiện nhờ các hoạt động của dự án, chứ không phải kết quả vốn đã xảy ra theo quy định bắt buộc hoặc trong điều kiện quản lý thông thường.
Từ ranh giới, mức tham chiếu và các biện pháp can thiệp, chủ dự án xây dựng tài liệu dự án và kế hoạch giám sát. Hồ sơ phải cho thấy dự án sẽ đo những thông số nào, đo ở đâu, theo tần suất ra sao, ai chịu trách nhiệm thu thập, kiểm soát và lưu trữ dữ liệu.
Đây là lúc ý tưởng bảo vệ hoặc phát triển rừng được chuyển thành một dự án có thể đo lường. Nếu thiếu kế hoạch giám sát ngay từ đầu, những hoạt động đã thực hiện trong nhiều năm có thể không đủ dữ liệu để chứng minh kết quả khi đề nghị xác minh.
|
Hành trình đưa tín chỉ các-bon rừng ra thị trường không phải là phép quy đổi đơn giản giữa diện tích rừng và lượng tín chỉ. Đó là quá trình dài, bắt đầu từ quyền hợp pháp, dữ liệu đáng tin cậy và phương án quản lý rừng khả thi; tiếp nối bằng đo đạc, báo cáo, thẩm định, xác minh; sau cùng mới là đăng ký, phát hành và chuyển nhượng. TCVN 14682:2026 đã đặt nền móng kỹ thuật cho hành trình ấy. Tuy nhiên, để tín chỉ các-bon rừng thực sự trở thành nguồn lực cho phát triển, các dự án phải bảo đảm tính minh bạch, không tính trùng, quản lý được rủi ro và chia sẻ lợi ích hợp lý. Chỉ khi mỗi tín chỉ phản ánh đúng một kết quả khí hậu đã được kiểm chứng, giá trị kinh tế từ rừng mới có thể song hành bền vững với mục tiêu bảo vệ hệ sinh thái và nâng cao đời sống của những người trực tiếp giữ rừng. |
Sau khi được xây dựng và đăng ký theo quy định, dự án bước vào giai đoạn thực hiện các biện pháp can thiệp. Tùy từng nhóm dự án, hoạt động có thể là bảo vệ rừng, ngăn chặn suy thoái, trồng mới, xúc tiến tái sinh, nuôi dưỡng rừng tự nhiên, làm giàu rừng, nâng cao năng suất hoặc kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng trồng.
Những hoạt động này phải tuân thủ pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; quy định về loài cây, nguồn giống và kỹ thuật lâm sinh. Dự án không thể theo đuổi mục tiêu tăng lượng các-bon bằng mọi giá mà bỏ qua những tác động đến đất, nước, đa dạng sinh học và đời sống cộng đồng.
Trong thời gian thực hiện, chủ dự án phải tổ chức đo đạc và thu thập dữ liệu theo kế hoạch đã được xác lập. TCVN 14682:2026 yêu cầu xem xét các bể các-bon, nguồn phát thải và loại khí nhà kính phù hợp với từng nhóm dự án. Các bể các-bon trong lĩnh vực lâm nghiệp có thể liên quan đến sinh khối trên mặt đất, sinh khối dưới mặt đất, cây chết, thảm mục và các-bon hữu cơ trong đất. Không phải mọi dự án đều nhất thiết tính tất cả các bể. Việc lựa chọn phải phù hợp với phương pháp áp dụng, có cơ sở và không làm sai lệch đáng kể kết quả.
Dự án đồng thời phải tính đến những nguồn phát thải phát sinh từ hoạt động của mình. Nếu chỉ tính lượng CO₂ được cây hấp thụ mà bỏ qua các nguồn phát thải đáng kể liên quan đến thay đổi sử dụng đất, khai thác, nhiên liệu, phân bón hoặc hoạt động quản lý rừng, kết quả cuối cùng sẽ không phản ánh đúng lợi ích khí hậu thực tế.
Dữ liệu hoạt động và hệ số phát thải là hai thành phần quan trọng của phép tính. Dữ liệu hoạt động phản ánh quy mô, diện tích hoặc mức độ diễn ra của từng hoạt động; hệ số phát thải giúp chuyển đổi dữ liệu đó thành lượng phát thải hoặc hấp thụ khí nhà kính.
Các phép tính phải tuân thủ phương pháp luận phù hợp, trong đó có hướng dẫn của Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu - IPCC. Tuy nhiên, áp dụng phương pháp luận không có nghĩa chỉ đưa số liệu vào một công thức có sẵn. Mỗi nguồn dữ liệu, hệ số và giả định đều cần được lựa chọn, giải thích và lưu lại để phục vụ kiểm tra.
Sau một giai đoạn thực hiện, dự án lập báo cáo kết quả. Báo cáo cần thể hiện lượng phát thải và hấp thụ trong kỳ, so sánh với mức tham chiếu, từ đó xác định lượng giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ ròng.
Kết quả còn phải được đánh giá về độ không chắc chắn. Điều tra rừng luôn tồn tại sai số do phương pháp lấy mẫu, thiết bị đo, bản đồ, hệ số chuyển đổi hoặc biến động tự nhiên. Đánh giá độ không chắc chắn giúp nhận diện mức độ tin cậy của kết quả và ngăn việc công bố lượng tín chỉ vượt quá khả năng chứng minh.
Một vấn đề khác là rò rỉ phát thải. Chẳng hạn, nếu dự án bảo vệ rừng khiến hoạt động khai thác hoặc chuyển đổi đất dịch chuyển sang vùng nằm ngoài ranh giới, lượng phát thải bị “đẩy” sang địa điểm khác chứ chưa thực sự được loại bỏ. Dự án phải đánh giá nguy cơ này và tính toán, xử lý theo phương pháp áp dụng.
Đối với các-bon rừng, kết quả hấp thụ và lưu giữ còn đối mặt với nguy cơ đảo nghịch. Cháy rừng, bão, sâu bệnh, khai thác trái phép hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất có thể làm mất đi lượng các-bon đã được ghi nhận. Bởi vậy, dự án cần nhận diện rủi ro, xây dựng biện pháp phòng ngừa, giám sát và ứng phó trong suốt thời gian thực hiện.
Cùng với các yêu cầu kỹ thuật, an toàn môi trường - xã hội là một phần không thể tách rời. Dự án phải xem xét tác động đối với đa dạng sinh học, đất, nguồn nước, loài bản địa và những khu vực có giá trị sinh thái quan trọng.
Một phương án trồng cây có thể tăng nhanh sinh khối nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro nếu sử dụng loài ngoại lai xâm hại, tác động xấu đến nguồn nước hoặc làm suy giảm hệ sinh thái bản địa. Hoạt động chuẩn bị đất, bón phân, tỉa thưa và tích tụ vật liệu cháy cũng cần được quản lý phù hợp.
Về xã hội, dự án phải tôn trọng quyền sử dụng đất, quyền quản lý rừng hợp pháp và quyền lợi của những cộng đồng liên quan. Cơ chế tham gia, chia sẻ lợi ích, tiếp nhận phản hồi và giải quyết khiếu nại cần được xác lập rõ ràng.
Sau khi báo cáo được hoàn thành, kết quả phải trải qua thẩm định hoặc xác minh bởi bên thứ ba độc lập, đủ điều kiện. Đây là bước phân biệt một tuyên bố giảm phát thải do chủ dự án tự công bố với một kết quả được kiểm tra để xem xét cấp tín chỉ.
Bên thẩm định, xác minh sẽ xem xét tính phù hợp của phương pháp, mức tham chiếu, dữ liệu, phép tính, hệ thống kiểm soát nội bộ và bằng chứng tại hiện trường. Khi phát hiện thiếu sót hoặc sai lệch, chủ dự án phải giải trình, bổ sung hoặc điều chỉnh trước khi kết quả được chấp nhận.
Vì vậy, dự án không nên đợi đến cuối kỳ mới chuẩn bị dữ liệu. Hệ thống quản lý hồ sơ phải được duy trì ngay từ đầu, gồm bản đồ, dữ liệu đo đạc, ảnh hiện trường, nhật ký hoạt động, hồ sơ lâm sinh, chứng từ liên quan và các phiên bản tính toán. Một con số không có tài liệu chứng minh sẽ khó vượt qua quá trình xác minh, dù về mặt thực tế khu rừng có thể đã được cải thiện. Ngược lại, một hệ thống dữ liệu được tổ chức tốt giúp giảm thời gian giải trình, hạn chế sai sót và nâng cao độ tin cậy của dự án.
Khi kết quả giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ được xác minh, dự án thực hiện thủ tục đề nghị đăng ký và phát hành tín chỉ theo quy định. Mỗi tín chỉ phải gắn với một lượng kết quả đã được công nhận, có thông tin về dự án, giai đoạn tạo ra tín chỉ và tình trạng sử dụng.
Hoạt động đăng ký có vai trò theo dõi quá trình hình thành, chuyển nhượng và sử dụng tín chỉ. Đây là công cụ quan trọng để ngăn ngừa tình trạng một tín chỉ được bán hoặc ghi nhận cho nhiều bên.
Theo quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, bên cung ứng hoặc đại diện chủ sở hữu phải xây dựng, đăng ký dự án; tổ chức đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải; được cấp tín chỉ và thực hiện các nghĩa vụ liên quan. Chỉ lượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận mới được trao đổi, chuyển nhượng.
Việc giao dịch có thể được thực hiện theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch các-bon. Giá chuyển nhượng được xác định thông qua hợp đồng hoặc cơ chế của sàn, thay vì có một mức giá cố định cho mọi loại tín chỉ.
Trên thực tế, giá trị của tín chỉ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: độ tin cậy của phương pháp, chất lượng dữ liệu, năm phát hành, mức độ rủi ro, lợi ích đối với đa dạng sinh học, tác động xã hội và nhu cầu của thị trường. Hai dự án cùng tạo ra một tấn CO₂ tương đương nhưng chưa chắc có chất lượng và giá giao dịch như nhau.
Một nguyên tắc bắt buộc là tín chỉ hoặc kết quả giảm phát thải đã được trao đổi, chuyển nhượng không được tiếp tục bán cho bên khác dưới danh nghĩa cùng một kết quả. Nếu bên mua sử dụng tín chỉ để bù trừ hoặc thực hiện một tuyên bố khí hậu, tín chỉ cần được ghi nhận và xử lý theo đúng cơ chế áp dụng nhằm tránh tính trùng.
Hoạt động chuyển nhượng ra thị trường quốc tế còn phải tuân thủ quy định của Chính phủ về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon. Việc xuất hiện một người mua nước ngoài không có nghĩa chủ dự án có thể tự do chuyển nhượng mà không xem xét nghĩa vụ đối với cam kết giảm phát thải quốc gia.
Đối với chủ rừng, tín chỉ mở ra một nguồn thu mới nhưng không phải khoản lợi nhuận đến ngay sau khi trồng hoặc bảo vệ rừng. Dự án phải bỏ chi phí cho khảo sát, xây dựng hồ sơ, đo đạc, lập bản đồ, giám sát, thẩm định, xác minh, đăng ký và quản lý rủi ro trong nhiều năm.
Nếu diện tích quá nhỏ, dữ liệu thiếu hoặc lượng tín chỉ dự kiến thấp, doanh thu có thể không đủ bù chi phí giao dịch. Đây là lý do các chủ rừng nhỏ có thể cần liên kết thành vùng dự án, hợp tác với doanh nghiệp hoặc tổ chức có năng lực kỹ thuật. Dù lựa chọn mô hình nào, cơ chế chia sẻ chi phí, lợi ích và rủi ro phải được công khai ngay từ đầu.
Doanh nghiệp tham gia phát triển dự án cũng cần thận trọng trước những cam kết lợi nhuận nhanh hoặc mức tín chỉ được ước tính chỉ từ diện tích rừng. Không thể xác định chính xác lượng tín chỉ khi chưa có dữ liệu hiện trạng, mức tham chiếu, phương pháp áp dụng và đánh giá tính bổ sung.
Về phía địa phương, việc phát triển dự án đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng dữ liệu rừng, hoàn thiện hồ sơ đất đai, theo dõi biến động và xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan lâm nghiệp, môi trường, chính quyền cơ sở, chủ rừng và cộng đồng.
Nếu được thiết kế bài bản, nguồn thu từ tín chỉ có thể quay lại hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng, cải thiện sinh kế và nâng cao năng lực quản lý. Pháp luật hiện hành cũng định hướng nguồn tiền thu được từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ của chủ rừng là tổ chức đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân được ưu tiên cho bảo vệ, phát triển rừng, sinh kế cộng đồng, xây dựng dự án, đo đạc, báo cáo, thẩm định và cơ sở dữ liệu lâm nghiệp.
Lợi ích của tín chỉ các-bon rừng vì vậy không nên chỉ được nhìn qua giá bán của từng tín chỉ. Một dự án tốt còn có thể tạo ra giá trị từ việc bảo vệ đất và nguồn nước, duy trì đa dạng sinh học, nâng cao chất lượng rừng, tạo việc làm và cải thiện năng lực quản trị tài nguyên.
Ngược lại, nếu chỉ chạy theo số lượng tín chỉ, dự án có thể bỏ qua quyền lợi của cộng đồng, đánh giá thấp rủi ro môi trường hoặc đưa ra những tuyên bố vượt quá kết quả thực tế. Khi đó, thiệt hại không chỉ thuộc về một dự án mà còn ảnh hưởng đến uy tín của tín chỉ các-bon rừng Việt Nam.
Hành trình từ rừng đến thị trường do đó không phải là phép quy đổi đơn giản giữa số cây và số tín chỉ. Đó là chuỗi công việc liên tục, bắt đầu từ quyền hợp pháp và dữ liệu đáng tin cậy, đi qua quá trình thực hiện, đo đạc, báo cáo và kiểm tra độc lập, rồi mới đến đăng ký, phát hành và chuyển nhượng.
TCVN 14682:2026 đặt ra khung yêu cầu kỹ thuật cho tín chỉ các-bon rừng được tạo ra từ các dự án trong lĩnh vực lâm nghiệp và sử dụng đất. Cơ hội thị trường sẽ chỉ trở thành giá trị bền vững khi mỗi tín chỉ được tạo ra có nguồn gốc rõ ràng, phản ánh đúng kết quả khí hậu và mang lại lợi ích công bằng cho những người trực tiếp bảo vệ, phát triển rừng.
Nguồn: Cơ sở dữ liệu của Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam, Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững.