Nâng cao hiệu quả quản lý khu bảo tồn biển Việt Nam

Nâng cao hiệu quả quản lý khu bảo tồn biển Việt Nam

Thứ hai, 17/8/2026, 08:48 (GMT+7)
logo Nếu trước đây bảo tồn biển thường được nhìn nhận đơn thuần là hoạt động bảo vệ các loài sinh vật quý hiếm, thì ngày nay khái niệm này đã được mở rộng thành một mô hình quản trị tổng hợp, kết hợp giữa bảo tồn thiên nhiên, phát triển sinh kế cộng đồng, quản lý nghề cá bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Nói cách khác, hiệu quả của một khu bảo tồn biển (KBTB) không chỉ được đo bằng diện tích được khoanh vùng bảo vệ mà còn bằng khả năng duy trì chức năng sinh thái, phục hồi nguồn lợi và mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phương.
bao-ton-bien_1786417887.png
Ảnh minh họa

Vai trò quan trọng của khu bảo tồn biển

Nghị quyết số 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (Nghị quyết số 36) khẳng định tầm phát triển mới về tư duy và mục tiêu chiến lược của Đảng ta, đặc biệt là về yêu cầu phát triển bền vững kinh tế biển. Triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, đến nay, nước ta đã tham gia nhiều cam kết quốc tế chung liên quan đến bảo tồn biển, kinh tế biển xanh và bền vững, nổi bật là: (1) Mục tiêu phát triển bền vững số 14 (SDG-14): “Bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương, vùng biển và các nguồn tài nguyên biển để phát triển bền vững”; (2) Cam kết “phát thải ròng bằng 0” vào năm 2050; (3) Tham gia Liên minh Đại dương toàn cầu (GOA) với mục tiêu bảo vệ ít nhất 30% đại dương thế giới vào năm 2030 thông qua một mạng lưới KBTB (MPAs) và các phương cách bảo tồn hiệu quả khác (OECMs); (4) Tham gia Hiệp định về “Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học ở vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia” (Hiệp định về Biển cả): Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học ở các vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia; (5) Cam kết phát triển nghề cá bền vững, có trách nhiệm; loại bỏ khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU); (6) các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên gắn với nhiệm vụ bảo tồn, bảo vệ biển.

Việc thực hiện quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng cùng với triển khai các cam kết quốc tế nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy công tác bảo tồn biển, trọng tâm là bảo tồn đa dạng sinh học biển; trong đó có việc thiết lập và quản lý các KBTB nhằm phát triển bền vững kinh tế biển ở Việt Nam.

Theo ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Cục trưởng, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Việt Nam đã thành lập 7 KBTB (Bạch Long Vỹ, Cô Tô - Đảo Trần, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Hòn Cau, Cà Mau, Phú Quốc), 5 khu vực biển được quản lý trong Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên (Cát Bà, Bái Tử Long, Núi Chúa, Côn Đảo, Cù Lao Chàm) với tổng diện tích vùng biển được khoanh vùng bảo tồn khoảng 215.191 ha, chiếm khoảng 0,215% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia. Bên cạnh đó, 7 khu vực biển đang được các địa phương lập dự án thành lập KBTB theo pháp luật thuỷ sản (vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Cát Bà - Long Châu, Hòn Ngư - Đảo Mắt, vịnh Quy Nhơn, vịnh Nha Trang, Phú Quý). Dự kiến hết năm 2026, sẽ có 14/27 KBTB được thành lập theo Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thuỷ sản thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Việt Nam đặt mục tiêu diện tích các KBTB, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia vào năm 2030. Tuy nhiên, thách thức hiện nay không chỉ là mở rộng diện tích, mà còn là bảo đảm nguồn lực quản lý, đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng cường phối hợp liên ngành và xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá hiệu quả quản lý thống nhất.

Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý KBTB tại Việt Nam đang được Cục Thủy sản và Kiểm ngư chủ trì hoàn thiện, với sự hỗ trợ kỹ thuật từ UNDP. Bộ chỉ số là sự kết hợp giữa các khung phương pháp luận quốc tế, cách tiếp cận hệ sinh thái và bối cảnh pháp lý - quản lý cụ thể của Việt Nam. Bộ chỉ số này bao gồm 24 chỉ số, được phân bổ theo 5 nhóm nội dung, phản ánh các hợp phần chính của công tác quản lý KBTB từ quản trị, lập kế hoạch, nguồn lực, quá trình thực hiện đến kết quả và tác động của công tác bảo tồn biển.

Thực tế, quản lý KBTB là lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực lớn, đa dạng về chuyên môn, trong khi ngân sách nhà nước còn hạn chế. Do đó, việc thu hút các tổ chức ngoài công lập tham gia quản lý KBTB ở Việt Nam giúp bổ sung nguồn lực, tăng tính linh hoạt và đổi mới trong quản trị, là xu hướng phổ biến trong quản trị tài nguyên theo hướng xã hội hóa, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý KBTB, thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Theo đó, nếu được triển khai đúng hướng, đây không chỉ là một bước tiến về mặt quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn biển, mà còn là nền tảng để gắn bảo tồn với phát triển kinh tế biển bền vững, phục hồi nguồn lợi, tăng khả năng chống chịu của vùng biển ven bờ, ven đảo và bảo đảm sinh kế cộng đồng trong dài hạn. Thông qua đó, đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát triển bền vững ngành kinh tế biển Việt Nam.

Cà Mau: Điểm sáng trong nỗ lực bảo tồn biển

Là địa phương duy nhất có ba mặt giáp biển với chiều dài bờ biển khoảng 310 km, tỉnh Cà Mau sở hữu hệ sinh thái biển, ven biển đặc biệt đa dạng và giàu giá trị sinh học.

Nhận thức rõ vai trò của bảo tồn biển đối với phát triển bền vững, tỉnh đã thành lập KBTB Cà Mau với diện tích 27.000 ha tại cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối và Hòn Đá Bạc. Đây là một trong những KBTB có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản khu vực Tây Nam Bộ.

Giai đoạn 2021 - 2025, địa phương đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm tạo nền tảng cho công tác bảo tồn biển. Trước hết là hoàn thiện khung pháp lý và tổ chức quản lý. Tỉnh đã ban hành kế hoạch triển khai quy hoạch bảo vệ nguồn lợi thủy sản, quy chế quản lý và kế hoạch quản lý KBTB giai đoạn 2025 - 2030. Song song với đó là tăng cường tuần tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong khai thác thủy sản, đặc biệt là các hình thức khai thác mang tính hủy diệt. Các hoạt động tái tạo nguồn lợi như thả giống thủy sản, xây dựng rạn nhân tạo cũng từng bước được triển khai.

Đáng chú ý, tỉnh Cà Mau đã hình thành các mô hình đồng quản lý với sự tham gia trực tiếp của cộng đồng ngư dân. Hai tổ đồng quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven biển đã được thành lập tại xã Đá Bạc, đồng thời, nhiều mô hình chuyển đổi sinh kế được triển khai nhằm giảm áp lực khai thác ven bờ.

Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, công tác quản lý KBTB hiện vẫn đối mặt với không ít khó khăn.

Thứ nhất, bộ máy quản lý chưa thực sự chuyên nghiệp. Nhiều KBTB hiện vẫn vận hành theo cơ chế kiêm nhiệm, thiếu đội ngũ chuyên trách về bảo tồn, nghiên cứu khoa học và quản trị tài nguyên.

Thứ hai, nguồn lực đầu tư còn hạn chế. Hệ thống mốc giới, phao phân định ranh giới, thiết bị giám sát và phương tiện tuần tra còn thiếu. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực thi pháp luật trên biển.

Thứ ba, mối liên kết giữa bảo tồn và sinh kế cộng đồng chưa đủ mạnh. Nhiều mô hình chuyển đổi nghề vẫn ở quy mô nhỏ, chưa tạo được nguồn thu ổn định để thay thế hoạt động khai thác ven bờ.

Thứ tư, hành lang pháp lý vẫn còn những khoảng trống. Một số quy định liên quan đến giao mặt nước biển, cho thuê khu vực biển trong phân khu dịch vụ - hành chính hoặc giao quyền quản lý cho cộng đồng tuy đã được đề cập trong các văn bản pháp luật nhưng thiếu hướng dẫn cụ thể, khiến địa phương lúng túng trong quá trình triển khai.

Giai đoạn 2026 - 2030, được xem là thời điểm bản lề của công tác bảo tồn biển Việt Nam. Trọng tâm không còn là mở rộng diện tích đơn thuần mà là nâng cao chất lượng quản trị. Theo đó, cần ưu tiên hoàn thiện mô hình quản lý chuyên nghiệp, đầu tư hạ tầng quản lý hiện đại, tăng cường thực thi pháp luật và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khai thác trong khu bảo tồn cũng như vùng đệm. Bên cạnh đó, việc phục hồi hệ sinh thái biển phải được triển khai đồng bộ thông qua tái tạo nguồn lợi thủy sản, mở rộng rạn nhân tạo, phục hồi rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và các sinh cảnh quan trọng.

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược khác là thúc đẩy đồng quản lý gắn với sinh kế bền vững. Khi người dân nhìn thấy lợi ích kinh tế từ bảo tồn thông qua du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản bền vững hay các dịch vụ hệ sinh thái, họ sẽ trở thành lực lượng bảo vệ tài nguyên hiệu quả nhất. Cùng với đó, ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu số về nguồn lợi thủy sản, giám sát không gian biển bằng công nghệ hiện đại và khai thác dữ liệu phục vụ ra quyết định sẽ là xu hướng tất yếu trong quản lý KBTB thời gian tới.

Hà Linh