Lực lượng Kiểm ngư Nghệ An hiện sử dụng 2 tàu kiểm ngư và 2 xuồng công tác. Tuy nhiên, sau nhiều năm khai thác, phần lớn phương tiện đã xuống cấp. Trong điều kiện thời tiết bất lợi, những hạn chế này càng bộc lộ rõ, ảnh hưởng đến khả năng cơ động và an toàn khi làm nhiệm vụ.
Trong số 2 tàu kiểm ngư, KN-701-NA là phương tiện có tuổi đời cao nhất. Tàu được đóng năm 1996 tại Nam Định, có chiều dài 20,83 m, rộng 4,4 m, sử dụng 2 máy chính công suất 330 CV. Tốc độ khai thác tối đa hiện nay chỉ khoảng 7 - 8 hải lý/giờ.
Sau gần 30 năm hoạt động, con tàu đã nhiều lần được sửa chữa, đại tu. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí hạn chế, việc sửa chữa chủ yếu thực hiện từng hạng mục nên chưa thể khắc phục đồng bộ tình trạng xuống cấp.
Theo ông Trần Châu Thành, Trưởng phòng Kiểm ngư, Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Nghệ An, từ năm 2022, tàu KN-701-NA được bố trí kinh phí sửa chữa một số hạng mục như thay vỏ tàu, một số khung xương, tu bổ giường ngủ, thay mặt boong. Riêng động cơ chính từ khi đưa vào sử dụng đến nay chưa được thay mới, chủ yếu sửa chữa mỗi khi xảy ra hư hỏng.
“Động cơ hiện đã yếu, thường xuyên phát sinh hư hỏng. Khi cần thay thế phụ tùng cũng rất khó vì máy đã quá cũ. Nhiên liệu tiêu hao nhiều, trong khi việc vận hành không còn được như trước ”, ông Thành cho biết.
Không chỉ máy móc, phần vỏ tàu cũng đã xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều vị trí phải hàn đắp, gia cố nhiều lần. Khi biển êm, tàu vẫn có thể hoạt động, nhưng lúc có gió, sóng lớn, cảm giác an toàn giảm rõ rệt. Theo cán bộ vận hành, khi tăng tốc, tàu có hiện tượng rung, lắc do kết cấu vỏ đã yếu.
Không những vậy, thiết bị hàng hải trên tàu cũng không còn đáp ứng được như cầu thực tế. Ông Nguyễn Văn Hùng, Thuyền trưởng tàu KN-701-NA cho biết: Nhiều thiết bị như radar, máy đo độ sâu, định vị đã cũ, hoạt động không ổn định. Radar hiện chỉ quét được trong phạm vi khoảng 3 - 4 hải lý. Trong điều kiện thời tiết bình thường, khả năng quan sát bằng mắt thường thậm chí còn thuận lợi hơn việc sử dụng thiết bị.
Hệ thống thông tin liên lạc Icom cũng chập chờn, có thời điểm không kết nối được với các phương tiện khác khi ở khoảng cách xa. Việc tiếp nhận thông tin, mệnh lệnh từ đất liền hoặc các lực lượng phối hợp vì thế cũng gặp khó khăn.
“Đi biển mà thiết bị liên lạc không ổn định thì rất bất tiện. Khi ở xa, nếu không nghe rõ hoặc không kết nối được với các phương tiện khác sẽ ảnh hưởng đến việc phối hợp xử lý công việc. Chưa dừng ở đó, bây giờ thuyền đi khai thác hải sản di chuyển tốc độ đạt 9-10 hải lý mà tàu kiểm ngư mình hết công suất chỉ đạt 7-8 hải lý thì tuần tra biển sao có thể đạt hiệu quả”, ông Hùng chia sẻ.
Bên cạnh đó, tàu kiểm ngư KN-688-NA có tuổi đời thấp hơn nhưng cũng đã hoạt động khoảng 20 năm. Tàu được đóng năm 2006 tại Hải Phòng, có chiều dài 17,5 m, rộng 4,6 m, được trang bị 2 máy chính công suất 550 CV và 2 máy phát điện công suất 60 CV. Tốc độ khai thác tối đa hiện nay khoảng 12 hải lý/giờ.
Phương tiện này được Chi cục Kiểm ngư Vùng I thanh lý, bàn giao cho Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Nghệ An quản lý, sử dụng. Sau 20 năm khai thác, nhiều thiết bị, máy móc đã xuống cấp và cần được bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên để duy trì khả năng hoạt động.
Kiểm ngư là lực lượng thực thi pháp luật về thủy sản trên biển, được giao tuần tra, kiểm tra, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ và vùng lộng thuộc phạm vi quản lý của tỉnh. Những vi phạm trong khai thác thủy sản phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo quy định. Đáng chú ý, hiện nay, toàn tỉnh Nghệ An có số lượng tàu thuyền lớn với 2.642 tàu cá thuộc diện quản lý.
Đặc biệt, trong quá trình triển khai các nhiệm vụ chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), phương tiện là một trong những điều kiện trực tiếp quyết định khả năng bám biển của lực lượng kiểm ngư.
Không chỉ kiểm tra tàu cá, lực lượng này còn được huy động tham gia tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ trên biển; phối hợp bảo đảm an ninh, an toàn cho ngư dân; bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khu vực cấm khai thác và phối hợp với các lực lượng chức năng thực hiện nhiệm vụ trên biển.
Thực tế tại Nghệ An cho thấy, các phương tiện kiểm ngư đã có thời gian khai thác dài, nhiều hạng mục máy móc, thiết bị xuống cấp. Chi phí duy tu, sửa chữa ngày càng tăng, trong khi nguy cơ hư hỏng đột xuất trong quá trình làm nhiệm vụ luôn hiện hữu.
Một khó khăn khác được đặt ra là hiện chưa có quy định cụ thể đối với tàu, xuồng kiểm ngư địa phương về định mức kỹ thuật, niên hạn sử dụng, chu kỳ bảo dưỡng và sửa chữa.
Khoảng trống này khiến địa phương gặp khó khi xây dựng kế hoạch bảo dưỡng định kỳ, bố trí kinh phí sửa chữa cũng như tính toán phương án đầu tư, thay thế phương tiện khi đã hết thời gian khai thác hoặc xuống cấp nghiêm trọng.
Trong thực tế, nếu phương tiện chỉ được sửa chữa khi hỏng hóc thì việc duy trì hoạt động sẽ trở nên bị động. Đối với tàu làm nhiệm vụ trên biển, sự bị động này không chỉ làm tăng chi phí sửa chữa mà còn tiềm ẩn rủi ro trong quá trình vận hành.
Bên cạnh câu chuyện về tuổi tàu, Nghệ An hiện cũng chưa có nơi neo đậu riêng bảo đảm điều kiện cho các phương tiện kiểm ngư. Các tàu đang neo tại cảng cá. Khi tàu cá ra vào cảng với mật độ lớn, nguy cơ va chạm, ảnh hưởng đến vỏ tàu và các hạng mục bên ngoài cũng khó tránh khỏi.
Việc neo đậu tại cảng cá cũng gây thêm khó khăn cho công tác quản lý, bảo quản phương tiện, nhất là đối với những con tàu đã cũ và cần được giữ gìn thường xuyên.
Từ thực trạng trên, việc rà soát lại toàn bộ hiện trạng tàu, máy móc, thiết bị và thời gian khai thác để có phương án phù hợp là cần thiết. Với những hạng mục còn khả năng khắc phục, cần có kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng đồng bộ thay vì xử lý manh mún từng phần. Đối với phương tiện đã xuống cấp nghiêm trọng, cần tính đến phương án đầu tư thay thế để bảo đảm an toàn và năng lực thực thi nhiệm vụ lâu dài. |