
![]()

![]()
Với những người đã quen với việc ghi chép bằng tay sau mỗi chuyến biển, việc làm quen với một phần mềm mới cũng sẽ có những bở ngỡ nhất định. Thế nhưng, cùng với quá trình triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử (eCDT VN), cách thức quản lý chuyến biển của ngư dân Nghệ An đang từng bước thay đổi.
Những thông tin về tàu cá, chuyến biển, sản lượng khai thác, quá trình xuất - nhập cảng... được cập nhật trên hệ thống thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào những cuốn sổ giấy như trước.
Theo Ban Quản lý cảng cá Nghệ An, toàn tỉnh hiện có 2.642 tàu cá. Đến nay, 2.308 tàu đã thực hiện eCDT; riêng nhóm tàu có chiều dài từ 12m trở lên, tỷ lệ cài đặt và sử dụng hệ thống quản lý eCDT đạt trên 95%.
Đây là một chuyển biến đáng ghi nhận trong quá trình số hóa hoạt động nghề cá. Hàng nghìn lượt tàu xuất, nhập cảng cùng sản lượng hải sản cập bến được cập nhật trên hệ thống, tạo thêm cơ sở để cơ quan chức năng theo dõi, đối chiếu và quản lý.
![]()
![]()
Anh Hồ Văn Sinh, chủ tàu cá NA-90491, thừa nhận những ngày đầu sử dụng eCDT không hề dễ dàng.
“Với những người đã gắn bó cả đời với biển như chúng tôi, làm quen với công nghệ không đơn giản. Những ngày đầu chưa thao tác thành thạo nên mất khá nhiều thời gian. Nhưng nhờ cán bộ cảng cá và lực lượng chức năng hướng dẫn, giờ các thao tác khai báo xuất, nhập cảng, cập nhật hành trình, tọa độ, sản lượng đánh bắt... đã quen hơn nhiều”, anh Sinh chia sẻ.
Nếu trước đây nhật ký khai thác chủ yếu được ghi chép bằng giấy, việc xác nhận, tổng hợp và kiểm tra thông tin cần nhiều thời gian thì nay việc ứng dụng eCDT sẽ giảm được một phần đáng kể. Một khi dữ liệu được đưa lên môi trường điện tử, thông qua hệ thống, hàng loạt thông tin cần xác minh về tàu cá và sản lượng cập bến có thể được cập nhật, quản lý ngay cả trong trường hợp tàu khai thác và cập cảng, bốc dỡ tại địa phương khác. Đây là cơ sở quan trọng để từng bước xây dựng dữ liệu tập trung về giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác, chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong kiểm soát sản lượng. Khi thông tin được số hóa và liên thông, việc đối chiếu giữa khai báo của chủ tàu với sản lượng thực tế cập cảng có thêm cơ sở, hạn chế tình trạng kê khai thiếu hoặc thiếu nhất quán giữa các khâu.
![]()
![]()
Ông Nguyễn Văn Trung, Phó Giám đốc Ban Quản lý cảng cá Nghệ An cho biết: Qua quá trình triển khai, nhận thức của ngư dân về truy xuất nguồn gốc thủy sản và trách nhiệm trong chống khai thác IUU ngày càng được nâng lên.
Đặc biệt, việc sử dụng eCDT giúp ngư dân chủ động hơn trong kê khai, cập nhật thông tin chuyến biển, đồng thời tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý trong quá trình xác nhận, chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác.
“Thông qua eCDT, ngư dân ngày càng nhận thức rõ hơn về vai trò của truy xuất nguồn gốc, tính minh bạch của sản phẩm khai thác và trách nhiệm tuân thủ các quy định về chống khai thác IUU. Việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng góp phần nâng cao tính chủ động, chính xác trong kê khai sản lượng”, ông Trung cho hay.
![]()

![]()
Với chức năng quản lý nhà nước về thủy sản và kiểm ngư trên địa bàn, Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Nghệ An trực tiếp tham mưu và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chống khai thác IUU.
Một trong những khâu được chú trọng là giám sát đội tàu và hoạt động đánh bắt trên biển. Tại Trạm bờ của Chi cục, việc theo dõi tàu cá được duy trì liên tục 24/7. Tín hiệu từ thiết bị giám sát hành trình (VMS) được cập nhật thường xuyên, qua đó kịp thời phát hiện những trường hợp có dấu hiệu vượt ranh giới vùng biển được phép khai thác hoặc mất kết nối thiết bị.
Khi phát hiện bất thường, cán bộ trực giám sát chủ động liên hệ với chủ tàu, thuyền trưởng để nắm tình hình, cảnh báo và yêu cầu khắc phục. Với những tàu không đủ điều kiện hoạt động, danh sách được rà soát, cập nhật và phối hợp với chính quyền địa phương, các lực lượng chức năng quản lý chặt, không để tàu tự ý xuất bến, ra khơi khai thác trái quy định. Cách làm này giúp công tác quản lý không chỉ dừng ở việc xử lý khi vi phạm đã xảy ra, mà chuyển dần sang kiểm soát và ngăn ngừa ngay từ đầu.
![]()
![]()
Quản lý chặt cũng đồng nghĩa với việc xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm. Thời gian qua, các vụ việc mất kết nối VMS, có dấu hiệu vượt ranh giới trên biển phát sinh trong các giai đoạn trước được rà soát, phân loại, xác minh để xử lý theo quy định.
Đối với những vụ việc mới phát sinh, Chi cục phối hợp với các cơ quan, địa phương liên quan nhanh chóng xác minh nguyên nhân, củng cố hồ sơ và tham mưu xử lý. Mục tiêu là không để vụ việc kéo dài, không để những trường hợp vi phạm trở thành “điểm mù” trong công tác quản lý.
Những con số cho thấy việc kiểm soát đội tàu đang dần đi vào nền nếp. Đến nay, toàn tỉnh đã đăng ký 2.643/2.643 tàu cá có chiều dài từ 6m trở lên thuộc diện đăng ký, đạt 100%. Toàn bộ tàu đủ điều kiện hoạt động đều được cấp giấy phép khai thác còn hạn; 100% tàu được sơn kẻ biển số, đánh dấu đúng quy định và cập nhật dữ liệu trên hệ thống VNFishbase.
![]()
![]()
Đối với nhóm tàu có chiều dài từ 15m trở lên thuộc diện phải lắp thiết bị giám sát hành trình, đã có 1.025/1.026 tàu lắp đặt VMS, đạt 99,9%.
Để kiểm soát chặt tàu cá tại cảng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, Chi cục phối hợp với các lực lượng chức năng kiểm soát tàu cập cảng, rời cảng, hồ sơ, nhật ký khai thác, sản lượng bốc dỡ; tăng cường sử dụng e-logbook và eCDT, bảo đảm sản lượng khai thác được kiểm soát, có nguồn gốc rõ ràng. Đồng thời, thực hiện kiểm tra doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU theo quy định và phương pháp đánh giá rủi ro.
![]()
![]()
Qua trao đổi, ông Mai Hồng Phong, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư tỉnh Nghệ An cho biết: Quan điểm của Chi cục là phải quản lý tàu cá xuyên suốt, từ khi đăng ký, cấp phép, xuất lạch, hoạt động trên biển đến khi cập cảng và bốc dỡ sản phẩm. Đối với nguy cơ tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài, yêu cầu cao nhất là phải chủ động phòng ngừa, cảnh báo từ sớm, kiểm soát từ trước khi xuất lạch và xử lý kịp thời ngay khi phát hiện dấu hiệu bất thường, tuyệt đối không để phát sinh vụ việc rồi mới xử lý.
Trong thời gian tới, Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Nghệ An sẽ tiếp tục tham mưu, tổ chức thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh; duy trì giám sát VMS 24/7, kiểm soát chặt tàu cá không đủ điều kiện, xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm, đồng thời tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn để ngư dân không vi phạm, không tiếp tay và không để xảy ra tình trạng tàu cá Việt Nam xâm phạm vùng biển nước ngoài. Đây là yêu cầu xuyên suốt nhằm góp phần thực hiện hiệu quả các khuyến nghị của EC và phát triển nghề cá bền vững.
Bài 3: Khi ngư dân và lực lượng chức năng cùng vào cuộc