Việt Nam có dư địa lớn để phát triển nuôi biển, nhưng sản xuất hiện vẫn chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, với khoảng 9.000 cơ sở nuôi và trên 80% lồng nuôi là lồng gỗ truyền thống. Muốn đưa nuôi biển trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, khoa học công nghệ phải tham gia đồng bộ từ lồng bè, con giống, thức ăn đến kiểm soát dịch bệnh, quan trắc môi trường và quản trị số.
Tại Hội thảo “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”, tổ chức ngày 21/8 tại Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, TS. Nhữ Văn Cẩn, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình bày tham luận về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nuôi biển.
Theo TS. Nhữ Văn Cẩn, thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW và Nghị quyết số 218/NQ-CP, lĩnh vực nông nghiệp và môi trường tập trung vào hoàn thiện thể chế, phát triển các ngành kinh tế biển và bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đối với thủy sản, định hướng đến năm 2030 là giảm khai thác ven bờ, tăng nuôi biển với tốc độ tăng trưởng khoảng 8%/năm về giá trị, đạt 15% về tỷ trọng; đồng thời bảo tồn từ 6% diện tích vùng biển tự nhiên trở lên.
Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản Việt Nam đạt khoảng 9,94 triệu tấn, trong đó nuôi trồng thủy sản chiếm 61%; kim ngạch xuất khẩu đạt 11,2 tỷ USD, thuộc nhóm ba quốc gia dẫn đầu thế giới và tạo việc làm, sinh kế trực tiếp, gián tiếp cho hơn 4 triệu lao động. Trong đó, khoa học và công nghệ đóng góp khoảng 30% vào kết quả của ngành; riêng nuôi biển đạt khoảng 9,8 triệu m³ lồng nuôi, sản lượng khoảng 860.000 tấn.
Dù vậy, quy mô sản xuất vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Việt Nam có khoảng 270.000ha diện tích tiềm năng nuôi ven bờ, nhưng cả nước hiện có khoảng 9.000 cơ sở nuôi, trên 80% lồng nuôi vẫn là lồng gỗ truyền thống ở quy mô hộ gia đình. Đây là một trong những điểm cần thay đổi nếu nuôi biển muốn tiến từ sản xuất nhỏ sang quy mô hàng hóa lớn và từng bước mở rộng ra vùng biển mở.
Theo TS. Nhữ Văn Cẩn, phát triển nuôi biển đòi hỏi sự đồng bộ của toàn chuỗi giá trị, từ cung ứng vật tư, thiết bị, tổ chức sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Những điểm nghẽn lớn hiện nay gồm rủi ro thiên tai khi sản xuất ở biển mở, khả năng cạnh tranh về con giống, thức ăn, dịch vụ và công nghệ, cùng yêu cầu quan trắc môi trường và kiểm soát dịch bệnh trong điều kiện biển là môi trường mở.
Thực tế, bão Yagi năm 2024 gây thiệt hại nặng cho hệ thống lồng gỗ truyền thống tại Quảng Ninh và Hải Phòng, trong khi lồng tròn HDPE thiệt hại không đáng kể. Thực tế này cho thấy khi nuôi biển mở rộng ra vùng có sóng gió lớn, công nghệ lồng bè và vật liệu chịu sóng trở thành yếu tố quan trọng để giảm thiểu rủi ro thiên tai.
Theo định hướng được Cục Thủy sản và Kiểm ngư đưa ra, hiện đại hóa nuôi biển trước hết phải gắn với phát triển lồng bè, thiết bị, cơ giới hóa và tự động hóa. Các hướng nghiên cứu gồm lồng HDPE, lồng bán chìm, lồng khung thép chịu sóng và thiết bị phụ trợ, đồng thời phải tính đến chi phí phù hợp để công nghệ có khả năng đi vào thực tiễn sản xuất.
Tuy nhiên, công nghệ nuôi biển không chỉ nằm ở hệ thống lồng. Một mắt xích quan trọng khác là chủ động con giống và thức ăn công nghiệp. TS. Nhữ Văn Cẩn đặt ra các hướng từ sinh sản nhân tạo, chọn giống chất lượng cao theo tính trạng, quản lý nguồn gen đến ứng dụng công nghệ sinh học, di truyền phân tử; đồng thời phát triển công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp, vaccine đối với các bệnh nguy hiểm và hệ thống quan trắc môi trường tự động.
Đổi mới sáng tạo cũng được đặt trong yêu cầu tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng một không gian biển. Các mô hình được đề cập gồm kết hợp nuôi biển với năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời; kết hợp với du lịch trải nghiệm sinh thái; trồng rong biển gắn với hấp thụ carbon. Một hướng khác là nuôi kết hợp đa loài, đa tầng, đa dinh dưỡng - IMTA với rong biển, cá biển và nhuyễn thể hai mảnh vỏ, góp phần khép kín hơn chu trình dinh dưỡng và hạn chế ô nhiễm hữu cơ.
Theo TS. Nhữ Văn Cẩn, chuyển đổi số được xác định là nền tảng để hướng tới quản trị thông minh. Hệ thống cảm biến IoT tích hợp trí tuệ nhân tạo có thể theo dõi nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, tảo độc và truyền dữ liệu tới người sản xuất. Cùng với đó là xây dựng bản đồ GIS, tích hợp cơ sở dữ liệu vùng nuôi để phục vụ quản lý, quy hoạch, giám sát sản xuất; ứng dụng các nền tảng số và blockchain trong truy xuất nguồn gốc, hướng tới chuẩn hóa chuỗi cung ứng từ “trang trại biển đến bàn ăn”.
Theo tham luận, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có ba vai trò tương hỗ. Khoa học công nghệ tạo động lực nâng năng suất và chất lượng sản phẩm; đổi mới sáng tạo mở ra các mô hình kinh doanh, chuỗi giá trị mới theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; còn chuyển đổi số tạo nền tảng tối ưu hóa quản trị và minh bạch hóa chuỗi cung ứng thủy sản.
Từ những điểm nghẽn hiện nay, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đề xuất xem xét xây dựng Chương trình khoa học công nghệ hoặc Đề án khoa học công nghệ cấp quốc gia về nuôi biển. Các nội dung trọng tâm gồm chọn tạo giống chất lượng cao; nghiên cứu, chế tạo vật liệu và thiết bị chịu sóng; phát triển công nghệ số trong quản trị, quan trắc môi trường, kiểm soát dịch bệnh và quản lý trang trại; nghiên cứu công nghệ mới trong dự báo thiên tai.
Cùng với đó, cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thông qua cơ chế đặt hàng, hợp tác công - tư, thử nghiệm và thương mại hóa công nghệ. Khi nuôi biển phát triển ở quy mô lớn, khả năng chủ động giống, thức ăn, vật liệu lồng bè, phòng bệnh, quan trắc môi trường và quản trị số sẽ cùng quyết định hiệu quả và khả năng cạnh tranh của toàn chuỗi.
“Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ hỗ trợ phát triển thủy sản, mà là phương thức mới để Việt Nam khai thác bền vững tiềm năng biển, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh”, TS. Nhữ Văn Cẩn nhấn mạnh.