news
Phát triển bền vững nông nghiệp trước thách thức thiên tai

Phát triển bền vững nông nghiệp trước thách thức thiên tai

Thứ bảy, 15/8/2026, 09:29 (GMT+7)
logo Những năm qua, nước ta luôn luôn coi phòng chống thiên tai (PCTT) và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của thiên tai, dịch bệnh đến các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nâng cao khả năng chống chịu, phục hồi của hệ thống nông nghiệp. Nông nghiệp có vai trò trong ổn định xã hội và giảm nghèo, bảo đảm sinh kế cho khu vực nông thôn là nguồn thu nhập chính cho hơn 60% dân số nông thôn, đóng vai trò quan trọng trong giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội và ổn định đời sống nhân dân.
dua-luoi_20260512215359_1786415614.jpg
Ảnh minh họa

Thiên tai thời tiết tác động mạnh tới phát triển ngành

Trong những năm gần đây, Việt Nam thường xuyên phải hứng chịu khoảng 16/22 loại hình thiên tai với diễn biến ngày càng cực đoan, dị thường và trái quy luật. Bão mạnh, siêu bão, mưa đặc biệt lớn, ngập lụt diện rộng, lũ quét, lở đất, rét đậm, rét hại, hạn hán, xâm nhập mặn, dông lốc, sét,… xảy ra khắp vùng miền cả nước và ngày càng trầm trọng hơn. Trung bình mỗi năm thiên tai gây thiệt hại cho nền kinh tế khoảng 1-1,5% GDP, lấy đi nhiều thành quả, làm chậm sự phát triển ở nhiều khu vực, tác động sâu sắc tới mọi hoạt động kinh tế - xã hội.

Có thể thấy, thiên tai và BĐKH diễn ra ngày càng gay gắt hơn, năm 2025 diễn ra dồn dập, khốc liệt, trên phạm vi rộng, mang nhiều yếu tố bất thường, vượt mức lịch sử: Có 21 cơn bão, ATNĐ trên biển Đông (15 cơn bão và 06 ATNĐ), vượt kỷ lục năm 2017 là 20 cơn (16 cơn bão, 04 ATNĐ trên biển Đông). Trong năm 2025, thiên tai đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, cơ sở hạ tầng, ảnh hưởng đến đời sống, sinh kế của người dân, nhất là những người làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Tính đến ngày 31/12/2025, thiên tai đã làm 484 người chết, mất tích, 811 người bị thương; tổng thiệt hại ước tính trên 104.733 tỷ đồng.

Mặc dù thiên tai diễn ra hết sức nghiêm trọng, song công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả đã được Đảng, Chính phủ, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTT, các cấp, các ngành thực hiện quyết liệt, kịp thời và hiệu quả cùng với sự chủ động của người dân, các tổ chức chính trị xã hội và nhiều tổ chức quốc tế; trong đó có đóng góp quan trọng của Bộ NN&MT, giúp người dân, chính quyền địa phương vượt qua các thử thách, chủ động phòng ngừa, nâng cao năng lực ứng phó, khắc phục hậu quả kịp thời, hiệu quả. Năm 2025, Bộ NN&MT đã xuất cấp và phối hợp với cơ quan xuất, cấp 3.798 tấn hạt lúa giống, 166 tấn giống ngô, 05 tấn giống rau, 10.300 thùng mì tôm. Bộ NN&MT phối hợp với Bộ Ngoại giao kêu gọi các Đại sứ quán và tổ chức quốc tế đã viện trợ và cam kết viện trợ cho các địa phương bị ảnh hưởng bởi bão số 10, 11, 12, 13 và mưa lũ sau bão với tổng kinh phí khoảng 23,838 triệu USD. Trong đó, có hơn 7 triệu USD là viện trợ bằng hàng hóa cho hơn 194.000 hộ gia đình tại 19 tỉnh, thành phố; hơn 5,8 triệu USD là cấp phát tiền mặt đa mục đích trực tiếp cho hơn 42.000 hộ gia đình tại 17 tỉnh, thành phố (mức hỗ trợ dao động từ 01 - 07 triệu đồng/hộ) nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu và phục hồi sinh kế sau thiên tai; hơn 3,8 triệu USD hỗ trợ sửa chữa/xây dựng lại nhà ở cho gần 4.200 hộ gia đình tại 08 tỉnh với mức hỗ trợ từ 04 - 30 triệu đồng/hộ sửa chữa nhà ở và hỗ trợ từ 60 - 170 triệu đồng/hộ xây dựng lại; trong đó xây dựng lại 370 căn nhà ở tỉnh Đắk Lắk với mức hỗ trợ 170 triệu đồng/hộ gia đình; còn lại hơn 6,8 triệu USD hiện đang xây dựng kế hoạch hỗ trợ,…

Hiện nay, trong phát triển, ngành Nông nghiệp được sự quan tâm, tạo điều kiện để phát triển bền vững và tăng trưởng; cải cách mạnh mẽ của Chính phủ trong cắt giảm điều kiện đầu tư, kinh doanh và đơn giản hóa thủ tục hành chính; có chính sách mạnh mẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân, nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng, độ mở lớn. Việc chuyển dịch và định hình lại chuỗi cung ứng toàn cầu tạo điều kiện cho các nền kinh tế mới nổi trong đó có Việt Nam; chúng ta nỗ lực đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, giảm phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc, nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp số, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế giúp duy trì tín nhiệm của nhà nhập khẩu. Ngành NN&MT đã duy trì đà tăng trưởng, xuất khẩu, đạt được nhiều kết quả quan trọng, năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 70,09 tỷ USD, trong đó các mặt hàng nông sản đạt 37,25 tỷ USD; lâm sản đạt 18,5 tỷ USD; thủy sản đạt 11,32 tỷ USD,... 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực; tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 30,69 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu đạt 22,28 tỷ USD, tăng 12,6%, qua đó đưa cán cân thương mại ngành xuất siêu 8,41 tỷ USD, tăng 1,1%.

Chủ động phòng ngừa, thích ứng, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia

Để phát triển bền vững lĩnh vực nông nghiệp, Ngành NN&MT đang thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao khả năng thích ứng, chống chịu và phục hồi trước bối cảnh của thiên tai, hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn, nước biển dâng, dịch bệnh; thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, điều chỉnh mùa vụ bằng áp dụng các biện pháp canh tác thích nghi; phát triển nuôi trồng thủy sản ở những vùng nước biển dâng, xâm nhập mặn; chuyển sang trồng hoa màu và cây trồng cạn ở những nơi giảm lượng mưa; áp dụng rộng rãi các biện pháp kỹ thuật thân thiện với môi trường từ khâu làm đất tối thiểu, bón phân và phun thuốc thông minh, tưới tiết kiệm nước, chăn nuôi tiết kiệm nước, sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi có khả năng chống chịu.

Đẩy mạnh các biện pháp phòng chống, hạn chế tác động của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặn do nước biển dâng. Rà soát, bổ sung, điều chỉnh chiến lược quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, phát triển kinh tế - xã hội vùng và địa phương phù hợp với kịch bản nước biển dâng. Chủ động di dời, sắp xếp lại các điểm dân cư ở những vùng thường xuyên bị tác động của lũ lụt, bão và những khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất. Thúc đẩy các giải pháp về bảo vệ môi trường, thích ứng với BĐKH, xây dựng nền tảng cho phát triển nông nghiệp bền vững, trước hết, được thể hiện trong các quy hoạch, quản lý và khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên quốc gia. Thúc đẩy sử dụng tiết kiệm, hợp lý có hiệu quả, kết hợp bảo vệ diện tích, độ phì nhiêu của đất canh tác nông nghiệp, từng bước khắc phục tình trạng manh mún, nhỏ lẻ trong sử dụng đất nông nghiệp, bảo vệ, phòng chống hoang mạc hóa, sa mạc hóa. 

Tiếp tục cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn, hiện đại và giá trị gia tăng cao; tăng cường kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm, đồng thời khai thác hiệu quả các nguồn lực đất đai, rừng và biển để hỗ trợ tăng trưởng. Cùng với đó, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, đưa các công trình trọng điểm vào khai thác hiệu quả; triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

Bộ NN&MT đã ban hành Quyết định số 1806/QĐ-BNNMT về Kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031 trong lĩnh vực NN&MT. Bộ ban hành Kế hoạch hành động với định hướng xuyên suốt là “kiến tạo môi trường phát triển mới, mở ra không gian tăng trưởng mới, tạo động lực tăng trưởng mới”. Kế hoạch xác định rõ mục tiêu cốt lõi: Phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái, xanh, giảm phát thải, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; đồng thời quản lý hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với BĐKH. Đây không chỉ là mục tiêu của Ngành mà còn là đóng góp quan trọng cho ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững đất nước. Các chỉ tiêu cụ thể được đặt ra mang tính toàn diện, bao trùm cả kinh tế, xã hội và môi trường. Trong đó, tăng trưởng GDP ngành nông, lâm, thủy sản đạt bình quân 3,6-4%/năm; kim ngạch xuất khẩu tăng 10-12%/năm; thu nhập cư dân nông thôn tăng gấp 2,5-3 lần so với năm 2020. Đặc biệt, Kế hoạch nhấn mạnh các chỉ tiêu môi trường như giảm phát thải khí nhà kính 8-9%, nâng tỷ lệ xử lý nước thải lưu vực sông lên 65-70%, duy trì độ che phủ rừng ổn định trên 42%. Không chỉ dừng ở tăng trưởng, Kế hoạch còn hướng tới nâng cao chất lượng sống của người dân nông thôn, giảm nghèo bền vững, mở rộng tiếp cận nước sạch và thúc đẩy xây dựng nông thôn mới với mục tiêu 65% số xã đạt chuẩn vào năm 2030,…

Nguyễn Văn Hải