news
Quảng Trị thúc đẩy sáng kiến nông nghiệp thích ứng khí hậu

Quảng Trị thúc đẩy sáng kiến nông nghiệp thích ứng khí hậu

Thứ năm, 13/8/2026, 06:54 (GMT+7)
logo Chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động thích ứng, những mô hình sinh kế xanh và bền vững xuất phát từ chính những vấn đề người dân gặp phải đang tạo nên thay đổi đáng chú ý cho nông nghiệp Quảng Trị trước thách thức biến đổi khí hậu.

Sáng 30/7/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị phối hợp với Tổ chức CARE International tại Việt Nam tổ chức Lễ vinh danh và trao giải Cuộc thi Sáng tạo khoa học kỹ thuật trong phát triển kinh tế nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Trị lần thứ nhất năm 2026.

Nhân dịp này, phóng viên (PV) Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Đặng Đình Ngọc - Cố vấn Chính sách và Đổi mới sáng tạo, Tổ chức CARE International tại Việt Nam, về tác động và khả năng nhân rộng các sáng kiến từ cuộc thi.

care-8_1786438815.jpg
Các sáng kiến được trao giải tại Cuộc thi Sáng tạo khoa học kỹ thuật trong phát triển kinh tế nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Trị lần thứ nhất năm 2026.

PV: Thưa ông, vì sao CARE International tại Việt Nam lựa chọn Quảng Trị là địa phương tổ chức và trao giải Cuộc thi Sáng tạo khoa học kỹ thuật trong phát triển kinh tế nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu? 

Ông Đặng Đình Ngọc: Quảng Trị là một địa phương vừa chịu tác động rõ nét của biến đổi khí hậu, thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan, vừa có tiềm năng lớn để phát triển những mô hình nông nghiệp xanh, tuần hoàn và thích ứng. Đây là nơi có sự đa dạng về điều kiện sinh thái, từ vùng ven biển, đầm phá, đồng bằng, gò đồi đến khu vực miền núi; đồng thời có nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, các hợp tác xã năng động và nguồn tri thức bản địa phong phú.

Điều tạo nên sự khác biệt của Quảng Trị là khả năng hình thành các giải pháp rất sát với từng hệ sinh thái và nhu cầu sinh kế. Chẳng hạn, ở vùng phá Hạc Hải, người dân cần những giải pháp giúp nuôi trồng thủy sản an toàn hơn trước lũ, từng bước chuyển sang tư duy sản xuất thích ứng với lũ. Tại Khe Sanh, các nhóm sản xuất tìm cách tận dụng phụ phẩm cà phê để tạo nhiệt sạch và than sinh học. Ở vùng ven biển, cộng đồng ứng dụng công nghệ bảo quản để nâng cao giá trị cây sa sâm biển.

Những sáng kiến này không bắt đầu từ một công nghệ được đưa từ bên ngoài vào, mà xuất phát từ chính những vấn đề người dân đang gặp phải.

Đây cũng phù hợp với định hướng hoạt động của CARE trong giai đoạn 2026–2030: Tăng cường năng lực thích ứng với khí hậu của người dân, hỗ trợ các giải pháp do địa phương dẫn dắt và kết nối đổi mới sáng tạo với sinh kế, thị trường, công nghệ và chính sách.

Cuộc thi Sáng tạo khoa học kỹ thuật trong phát triển kinh tế nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Trị lần thứ nhất năm 2026 được tổ chức trong khuôn khổ Dự án Resilience First (Tiến về phía trước) do Chính phủ Ireland tài trợ và Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam triển khai, nhằm tìm kiếm, hỗ trợ các sáng kiến đổi mới sáng tạo góp phần giải quyết những thách thức trong phát triển nông nghiệp và sinh kế trước tác động của biến đổi khí hậu. Cuộc thi đã thu hút 57 hồ sơ từ các hợp tác xã, doanh nghiệp, tổ hợp tác, nhóm cộng đồng và cá nhân trên địa bàn tỉnh. 

crre-1_1786438067.jpg
Ông Đặng Đình Ngọc (áo màu cam) - Cố vấn Chính sách và Đổi mới sáng tạo, Tổ chức CARE International tại Việt Nam.

PV: Trong quá trình đồng hành cùng Quảng Trị, theo ông, đâu là những kết quả nổi bật và bài học kinh nghiệm có thể nhân rộng từ cuộc thi này?

Ông Đặng Đình Ngọc: Tại Quảng Trị, CARE International tại Việt Nam tập trung vào bốn nhóm giải pháp: Phát triển sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu; củng cố vai trò của hợp tác xã, tổ nhóm và cộng đồng; thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải trong nông nghiệp; đồng thời tăng cường sự tham gia, năng lực kinh tế của phụ nữ, thanh niên và đồng bào dân tộc thiểu số.

Mục tiêu chung là giúp cộng đồng nâng cao khả năng thích ứng, tạo sinh kế bền vững và chủ động hơn trước những thay đổi của môi trường và thị trường.

Kết quả nổi bật nhất không chỉ nằm ở số lượng mô hình được hình thành, mà ở sự thay đổi trong tư duy: Người dân bắt đầu nhìn nhận rủi ro khí hậu như một yếu tố cần được tính đến ngay từ khâu thiết kế sản xuất và kinh doanh.

Bài học quan trọng có thể nhân rộng là một giải pháp thích ứng chỉ bền vững khi đồng thời đáp ứng ba điều kiện: Phù hợp với bối cảnh địa phương, tạo ra lợi ích kinh tế rõ ràng và được chính cộng đồng tham gia xây dựng, vận hành. Công nghệ dù tốt đến đâu cũng khó tồn tại nếu chi phí quá cao, không có thị trường hoặc người dân không làm chủ được.

cae-2_1786438061.jpg
Cuộc thi Sáng tạo khoa học kỹ thuật trong phát triển kinh tế nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Trị lần thứ nhất năm 2026 trong khuôn khổ Dự án Resilience First (Tiến về phía trước) do Chính phủ Ireland tài trợ và Tổ chức CARE International tại Việt Nam triển khai.

PV: Sau khi cuộc thi kết thúc, đâu là yếu tố giúp các mô hình vẫn tiếp tục phát huy hiệu quả và nhân rộng, thưa ông?

Ông Đặng Đình Ngọc: Một mô hình có thể tiếp tục phát huy hiệu quả sau khi dự án kết thúc khi nó không phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn hỗ trợ bên ngoài. Mô hình đó cần tạo ra giá trị kinh tế hoặc lợi ích xã hội đủ rõ để người dân có động lực duy trì; có một tổ chức địa phương đủ năng lực quản lý; có thị trường hoặc đối tác tiêu thụ; có quy trình kỹ thuật mà người dân làm chủ; và được chính quyền địa phương công nhận, hỗ trợ hoặc lồng ghép vào kế hoạch phát triển.

Nói cách khác, tính bền vững không chỉ nằm ở bản thân một mô hình kỹ thuật, mà còn nằm trong hệ sinh thái các mối quan hệ, năng lực và nguồn lực được xây dựng xung quanh mô hình đó.

car4_1786438044.jpg
Để một sáng kiến cộng đồng được áp dụng rộng rãi, trước hết cần có giai đoạn thử nghiệm đủ nghiêm túc.

Các sáng kiến được vinh danh tại Quảng Trị thể hiện khá rõ những yếu tố này. Ví dụ, mô hình nuôi tôm càng xanh vượt lũ giải quyết trực tiếp nguy cơ tôm bị cuốn trôi khi nước dâng; lớp phủ sinh học giúp tận dụng bã dược liệu và giảm sử dụng nhựa; hay công nghệ sấy lạnh giúp giảm tổn thất sau thu hoạch đối với cây sa sâm biển. Đây đều là những giải pháp xuất phát từ một bài toán cụ thể và có tiềm năng tạo ra lợi ích kinh tế lẫn môi trường.

Tuy nhiên, để một sáng kiến cộng đồng được áp dụng rộng rãi, trước hết cần có giai đoạn thử nghiệm đủ nghiêm túc. Không nên chuyển ngay từ một ý tưởng sang nhân rộng quy mô lớn. Cần đo lường hiệu quả kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường; xác định điều kiện áp dụng; đánh giá rủi ro; sau đó hoàn thiện quy trình.

Tiếp theo, cần có cơ chế tài chính phù hợp. Nhiều hợp tác xã có ý tưởng tốt nhưng thiếu vốn đối ứng, tài sản bảo đảm hoặc khả năng tiếp cận tín dụng. Do đó, cần kết hợp hỗ trợ ban đầu với các công cụ như vốn vay ưu đãi, quỹ đổi mới sáng tạo, đầu tư tác động hoặc hợp tác công – tư.

Bản thân cuộc thi không chỉ tạo cơ hội để các nhóm tham gia được ghi nhận và nhận giải thưởng, mà thông qua tổ tư vấn còn giúp các nhóm củng cố kỹ thuật, xây dựng đề xuất đáp ứng các yêu cầu khác nhau về hồ sơ của các tổ chức cung cấp nguồn lực.

Bên cạnh đó, cần hình thành các nền tảng kết nối sáng kiến với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ quan quản lý. Khi có một đầu mối theo dõi, tư vấn kỹ thuật và kết nối thị trường, khả năng một sáng kiến đi được từ ý tưởng đến quy mô thương mại sẽ cao hơn nhiều.

 

caree6_1786438035.jpg
Việc chuyển từ tư duy ứng phó sang chủ động thích ứng, quản trị rủi ro được xem là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay. Ảnh minh họa

PV: Biến đổi khí hậu đang đặt ra yêu cầu chuyển từ tư duy “ứng phó” sang “thích ứng”. Nếu trước đây mục tiêu là khôi phục sản xuất sau thiên tai thì ngày nay cần hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp có khả năng đứng vững trước các rủi ro ngay từ đầu. Từ góc nhìn của Care International tại Việt Nam, sự chuyển đổi này cần bắt đầu từ đâu và Việt Nam cần thay đổi những gì về chính sách, khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất cũng như quản trị rủi ro?

Ông Đặng Đình Ngọc: Sự chuyển đổi từ ứng phó sang thích ứng cần bắt đầu từ cách chúng ta lập kế hoạch phát triển. Rủi ro khí hậu không nên chỉ được xem xét sau khi thiên tai xảy ra, mà phải trở thành một phần của mọi quyết định về quy hoạch, đầu tư, lựa chọn cây trồng, vật nuôi, hạ tầng, công nghệ và thị trường.

Về chính sách, cần lồng ghép các kịch bản khí hậu và đánh giá rủi ro vào kế hoạch phát triển nông nghiệp của từng địa phương. Chính sách hỗ trợ cũng nên khuyến khích các mô hình sử dụng tiết kiệm nước, bảo vệ đất, đa dạng sinh học, giảm phát thải và phục hồi hệ sinh thái.

Về khoa học công nghệ, cần ưu tiên các giải pháp dễ tiếp cận, có chi phí phù hợp và có thể được vận hành, sửa chữa tại địa phương. Chúng ta không nên chỉ tập trung vào công nghệ cao theo nghĩa thiết bị hiện đại, mà cần coi trọng cả công nghệ phù hợp, tri thức bản địa và những cải tiến nhỏ nhưng có khả năng tạo ra tác động lớn.

Về tổ chức sản xuất, cần tăng cường vai trò của hợp tác xã và các tổ chức kinh tế tập thể. Một hộ nông dân riêng lẻ rất khó đầu tư hệ thống bảo quản, chế biến, năng lượng tái tạo hoặc tiếp cận thị trường lớn. Khi liên kết thành tổ chức, người dân có khả năng chia sẻ chi phí, quản lý rủi ro và nâng cao vị thế thương lượng.

Về quản trị rủi ro, Việt Nam cần phát triển tốt hơn các hệ thống thông tin khí hậu, cảnh báo sớm, bảo hiểm nông nghiệp, quỹ dự phòng và các công cụ tài chính giúp người dân phục hồi nhanh sau cú sốc. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng không chỉ là phục hồi nhanh, mà là giảm mức độ thiệt hại ngay từ đầu.

Quan trọng hơn, quá trình chuyển đổi phải bảo đảm công bằng. Phụ nữ, người dân tộc thiểu số, hộ nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương thường chịu tác động nặng nề hơn nhưng lại có ít nguồn lực để đầu tư cho thích ứng. Vì vậy, mọi chính sách và giải pháp cần đánh giá rõ ai được hưởng lợi, ai có nguy cơ bị bỏ lại phía sau và cần có những hỗ trợ gì để họ có thể tham gia.

cre-8_1786438924.jpg
Mục tiêu của cuộc thi là tạo ra một môi trường trong đó người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp địa phương có thể thường xuyên đề xuất, thử nghiệm và phát triển các giải pháp mới

PV: Sau lễ trao giải, CARE International tại Việt Nam sẽ tiếp tục đồng hành với các sáng kiến như thế nào để những ý tưởng này không chỉ dừng lại ở giải thưởng mà có thể được hoàn thiện, chuyển giao công nghệ, nhân rộng trong thực tiễn?

Ông Đặng Đình Ngọc: Trước hết, CARE International tại Việt Nam sẽ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị cùng các đối tác liên quan để hỗ trợ các nhóm đoạt giải hoàn thiện kế hoạch triển khai. Mỗi sáng kiến có nhu cầu khác nhau: Có mô hình cần tư vấn kỹ thuật; có mô hình cần hoàn thiện thiết kế thiết bị; có nhóm cần hỗ trợ về quản trị, bao bì, tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng thương hiệu hoặc tiếp cận thị trường.

Tiếp đến, các sáng kiến cần được theo dõi bằng những chỉ số cụ thể. Chúng tôi không chỉ quan tâm một thiết bị đã được lắp đặt hay một mô hình đã được xây dựng, mà cần đánh giá liệu sáng kiến có giúp giảm chi phí, tăng thu nhập, giảm phát thải, tiết kiệm nước, hạn chế chất thải hay tăng khả năng chống chịu trước thiên tai hay không.

Cùng với đó, CARE International tại Việt Nam sẽ thúc đẩy kết nối các nhóm sáng kiến với chuyên gia, cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp, nhà cung cấp công nghệ và các nguồn tài chính phù hợp. Việc chuyển giao công nghệ chỉ hiệu quả khi người sử dụng được đào tạo, làm chủ quy trình và có khả năng duy trì hệ thống sau thời gian hỗ trợ.

Bên cạnh 14 nhóm đoạt giải, cả 57 hồ sơ tham gia đều được Ban Giám khảo đánh giá có chất lượng tốt. Vì vậy, CARE International tại Việt Nam mong muốn tiếp tục đồng hành và giới thiệu các sáng kiến này với những cơ quan, chương trình liên quan để có thể kết nối với nguồn lực từ các Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh, tạo cơ hội triển khai và lan tỏa rộng hơn.

Tuy nhiên, việc nhân rộng không có nghĩa là sao chép nguyên trạng một mô hình, mà là xác định những nguyên tắc cốt lõi và điều chỉnh cho phù hợp với từng điều kiện sinh thái, kinh tế và xã hội.

Trong định hướng giai đoạn 2026–2030, CARE International tại Việt Nam mong muốn hình thành một chu trình hỗ trợ đầy đủ hơn cho đổi mới sáng tạo địa phương: Từ phát hiện ý tưởng, thử nghiệm, đo lường kết quả, hoàn thiện mô hình, kết nối thị trường và tài chính, đến đối thoại chính sách và nhân rộng.

Mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm nhiều cuộc thi, mà là tạo ra một môi trường trong đó người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp địa phương có thể thường xuyên đề xuất, thử nghiệm và phát triển các giải pháp mới. Khi cộng đồng có năng lực đổi mới và có các cơ chế hỗ trợ phù hợp, họ sẽ chủ động hơn trước biến đổi khí hậu, thay vì chỉ chờ đợi sự hỗ trợ sau mỗi đợt thiên tai.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

 

Đinh Loan