Khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nâng cao năng lực phòng chống thiên tai (PCTT), thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH) và giảm phát thải khí nhà kính (KNK). Những năm gần đây, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình, đề tài và mô hình KHCN trong các lĩnh vực BĐKH, khí tượng thủy văn, nông nghiệp, tài nguyên nước, quản lý đô thị, năng lượng, bảo vệ môi trường (BVMT), bước đầu tạo ra những kết quả có giá trị thực tiễn.
Trong tương lai, BĐKH được dự báo tiếp tục làm gia tăng những thách thức đối với công tác PCTT và bảo đảm an ninh môi trường, tài nguyên và phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, tăng cường ứng dụng KHCN và đổi mới sáng tạo là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao khả năng dự báo, cảnh báo, chủ động phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai; đồng thời hỗ trợ quá trình thích ứng với BĐKH và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, tuần hoàn và bền vững. Kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển công nghệ thân thiện với môi trường đang trở thành những định hướng quan trọng trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai của Việt Nam được nâng lên rõ rệt, đạt trình độ hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Nhiều chương trình, dự án KHCN về BĐKH đã được nghiên cứu và áp dụng trong thực tế, cung cấp cơ sở khoa học, công cụ và mô hình phục vụ quản lý tài nguyên, BVMT, PCTT và thích ứng với BĐKH. Các chương trình KHCN tập trung vào nhiều nhóm nhiệm vụ như: Phát triển công nghệ năng lượng; phòng tránh thiên tai, BVMT và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; quản lý biển, hải đảo; nghiên cứu, ứng dụng công nghệ dự báo và cảnh báo góp phần cung cấp thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, PCTT.
Ngành Nông nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của BĐKH, do đó nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thích ứng có ý nghĩa quan trọng đối với bảo đảm an ninh lương thực và sinh kế của người dân. Chúng ta đã nghiên cứu, thí điểm một số giống lúa và áp dụng các biện pháp kỹ thuật sản xuất thích ứng với điều kiện khí hậu thay đổi. Các giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, điều chỉnh mùa vụ và kỹ thuật sản xuất đã được đưa vào kế hoạch hành động của ngành Nông nghiệp ứng phó với BĐKH. Một số giống lúa có khả năng thích nghi với điều kiện úng ngập, chịu mặn và chịu phèn được nghiên cứu, ứng dụng. Đáng chú ý, bộ bản đồ rủi ro và lập kế hoạch thích ứng với BĐKH (CS-Map) đã được xây dựng và ứng dụng tại các tỉnh, thành phố. Kết quả ứng dụng tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy việc điều chỉnh lịch xuống giống góp phần giúp người sản xuất hạn chế tác động bất lợi của hạn hán và xâm nhập mặn, đặc biệt trong vụ lúa đông xuân,…
Các chương trình KHCN đã hình thành nhiều mô hình và giải pháp công nghệ nhằm nâng cao khả năng chống chịu của cơ sở hạ tầng trước tác động của BĐKH. Trong đó, mô hình nhà thích ứng với lũ lụt đã được xây dựng tại Thành phố Huế, có khả năng nhân rộng tại các địa phương khác. Dự án của UNDP về tăng cường khả năng chống chịu với BĐKH của các cộng đồng dễ bị tổn thương ven biển Việt Nam, Mô hình làng sinh thái ứng phó với BĐKH cũng được thí điểm tại Cà Mau,…
Trong lĩnh vực đô thị, nghiên cứu đã xây dựng bộ chỉ số và mô hình đô thị ven biển thích ứng với BĐKH; công nghệ thoát nước đô thị bền vững, sử dụng cỏ vetiver chống sạt lở taluy dương, vật liệu chịu nắng nóng trong xây dựng giao thông và công nghệ neo trong đất để gia cố đê biển làm nền đường ô tô đã được nghiên cứu, ứng dụng. Bên cạnh đó, các giải pháp chuyển nước mặn thành nước ngọt, công nghệ thân thiện với môi trường, sử dụng năng lượng tái tạo và tiết kiệm nhiên liệu cũng được nghiên cứu nhằm tăng khả năng thích ứng của các khu vực dễ bị tổn thương.
Các chương trình KHCN về BĐKH, quản lý tài nguyên và BVMT đã cung cấp luận cứ khoa học, công cụ và mô hình tiên tiến phục vụ thực hiện nhiệm vụ ứng phó với BĐKH. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần đề xuất và triển khai các giải pháp về cơ chế, chính sách và KHCN phục vụ thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam. Trong giai đoạn mới, một trong những hướng ưu tiên là xây dựng cơ sở dữ liệu, phương pháp tính toán và giải pháp quản lý, kiểm kê, chứng nhận phát thải KNK, qua đó nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của hoạt động giảm phát thải. Đồng thời, nghiên cứu phương pháp tạo tín chỉ các-bon cho các biện pháp giảm phát thải và xác định chỉ số đánh giá mức độ rò rỉ các-bon trong các ngành xuất khẩu được xác định là những hướng nghiên cứu cần tiếp tục triển khai.
Mặc dù đạt được nhiều kết quả, ứng dụng KHCN trong lĩnh vực BĐKH vẫn còn một số hạn chế. Các công trình có tính ứng dụng cao và quy mô lớn còn thiếu; tính liên ngành trong nghiên cứu chưa chặt chẽ; một số kết quả còn thiên về nghiên cứu hàn lâm,… Trong nông nghiệp, việc ứng dụng KHCN, chuyển đổi cơ cấu, giống cây trồng, vật nuôi và các biện pháp canh tác thích ứng với BĐKH chưa nhiều. Hệ thống cấp, thoát nước tại đô thị và khu công nghiệp, đặc biệt ở vùng ven biển, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu,...
Chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu rộng trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Trong lĩnh vực BĐKH, chuyển đổi số được xem là một trong những nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực thu thập, tích hợp, phân tích và chia sẻ dữ liệu. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất về BĐKH, tăng cường hạ tầng số và các nền tảng số phục vụ quản lý tài nguyên, BVMT và ứng phó với BĐKH. Đồng thời, đầu tư tự động hóa, hiện đại hóa mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn và giám sát BĐKH.
Trong giai đoạn tới, việc nghiên cứu, phát triển và chuyển giao các mô hình, giải pháp công nghệ thông minh cần tập trung vào dự báo, giám sát và cảnh báo tổng thể, tích hợp giữa các yếu tố tự nhiên và xã hội. Các công nghệ này có thể hỗ trợ đánh giá tác động của BĐKH, hoạt động của con người và nước biển dâng đối với sụt lún, sạt lở, xâm nhập mặn; đồng thời phục vụ dự báo sản xuất nông nghiệp, dịch bệnh và các vấn đề môi trường. Phát triển Big Data và hệ thống thông tin địa lý (GIS) cần được gắn với theo dõi và cảnh báo sớm thiên tai, BĐKH. AI và Internet vạn vật (IoT) được định hướng ứng dụng trong giám sát, phân tích rủi ro, quản lý thiên tai và hỗ trợ ra quyết định. Đây là hướng tiếp cận có khả năng tăng cường tính tích hợp giữa dữ liệu quan trắc, dữ liệu không gian, mô hình dự báo và thông tin phục vụ quản lý.
Nghiên cứu và phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng không phát thải tiếp tục là một hướng quan trọng, bao gồm điện gió ngoài khơi, năng lượng thủy triều và năng lượng sinh khối. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu nhiên liệu amoniac xanh, hydro xanh, công nghệ lưu trữ năng lượng và công nghệ thu hồi, lưu giữ và sử dụng các-bon. Đối với lĩnh vực làm mát và sử dụng năng lượng, cần nghiên cứu công nghệ làm mát hiệu quả, tiết kiệm năng lượng, đồng thời sử dụng các môi chất lạnh tự nhiên thay thế những chất làm suy giảm tầng ô-dôn và các chất gây hiệu ứng nhà kính. Những hướng công nghệ này có ý nghĩa trong quá trình chuyển dịch sang hệ thống năng lượng và sản xuất phát thải thấp.
Khoa học, công nghệ tiếp tục hỗ trợ chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải các-bon thấp và thân thiện với môi trường. Một trọng tâm khác là nghiên cứu, chọn tạo các giống cây trồng và vật nuôi có năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu phù hợp với điều kiện BĐKH và nhu cầu thị trường. Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật nhằm giảm phát thải mê-tan và KNK trong sản xuất nông nghiệp, thu hồi mê-tan và nâng cao chất lượng, trữ lượng các-bon của rừng. Việc xác định các hệ số hấp thụ và hệ số phát thải trong quản lý, kinh doanh rừng trồng cũng là một hướng nghiên cứu được đặt ra.
Để nâng cao hiệu quả ứng dụng KHCN trong lĩnh vực BĐKH, thời gian tới tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách về chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo; tăng cường liên kết giữa nghiên cứu khoa học, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và địa phương nhằm đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm, mô hình thí điểm vào ứng dụng ở quy mô phù hợp. Ưu tiên các nhiệm vụ KHCN có tính ứng dụng và khả năng nhân rộng. Các nghiên cứu cần hướng tới giải quyết những vấn đề thực tiễn như dự báo thiên tai, xâm nhập mặn, sạt lở, ngập lụt, nước biển dâng, phát thải KNK, chuyển đổi năng lượng và sản xuất nông nghiệp thích ứng. Phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu và quan trắc. Hiện đại hóa mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn và BĐKH, đặc biệt tại các khu vực biển, ven biển và vùng có nguy cơ thiên tai cao; đồng thời xây dựng cơ chế quản lý, kết nối và chia sẻ cơ sở dữ liệu thống nhất.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia có năng lực liên ngành, kết hợp giữa khoa học khí hậu, công nghệ thông tin, AI, viễn thám, GIS, mô hình hóa, năng lượng, nông nghiệp và kinh tế môi trường. Đồng thời, cần có cơ chế thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực BĐKH. Thúc đẩy hợp tác quốc tế và huy động nguồn lực xã hội. BĐKH có tính xuyên biên giới, vì vậy việc tiếp nhận, chuyển giao và làm chủ các công nghệ tiên tiến cần gắn với hợp tác quốc tế, đồng thời phát huy nguồn lực trong nước và sự tham gia của doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng.
Ứng dụng KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những nền tảng quan trọng để Việt Nam nâng cao năng lực ứng phó với BĐKH. Những kết quả đạt được trong dự báo, cảnh báo thiên tai; nông nghiệp thích ứng; xây dựng, giao thông và đô thị chống chịu; quản lý tài nguyên, BVMT và giảm phát thải đã tạo cơ sở cho việc mở rộng ứng dụng công nghệ trong giai đoạn mới. Đồng thời, thúc đẩy các công nghệ năng lượng tái tạo, hydro xanh, amoniac xanh, lưu trữ năng lượng, thu hồi và lưu giữ các-bon, nông nghiệp phát thải thấp và các giải pháp thích ứng thông minh. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp sẽ góp phần nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro thiên tai; tăng khả năng chống chịu của các hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội; hỗ trợ thực hiện các mục tiêu giảm phát thải KNK và thích ứng với BĐKH. Đặc biệt, việc triển khai các nhiệm vụ KHCN cần gắn với yêu cầu thực tiễn, bảo đảm khả năng chuyển giao, nhân rộng và tạo ra giá trị lâu dài cho phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.