Ứng dụng công nghệ cao vào nuôi tôm thẻ chân trắng đang mở ra hướng phát triển mới cho kinh tế vùng ven biển Thanh Hóa. Thay thế ao nuôi truyền thống, người dân từng bước chuyển sang thâm canh, siêu thâm canh, kiểm soát môi trường, nâng năng suất, tăng thu nhập, tạo việc làm và hướng tới sản xuất thủy sản bền vững.
Thanh Hóa có lợi thế lớn về kinh tế biển với vùng ven biển rộng, hệ thống bãi ngang, vùng triều và điều kiện tự nhiên phù hợp phát triển nuôi trồng thủy sản. Toàn tỉnh hiện có khoảng 19.200 ha diện tích nuôi trồng thủy sản và 5.740 ô lồng. Trong đó, khoảng 14.000 ha nuôi nước ngọt, 4.200 ha nuôi nước lợ và 1.000 ha nuôi nước mặn. Cùng với các đối tượng nuôi truyền thống, tôm thẻ chân trắng đang ngày càng khẳng định vai trò là một trong những sản phẩm thủy sản có giá trị kinh tế cao.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan và ô nhiễm môi trường tác động ngày càng rõ đến sản xuất, việc nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Với nghề nuôi tôm, chuyển đổi từ phương thức truyền thống sang thâm canh, siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao không chỉ nhằm tăng sản lượng mà còn tạo ra phương thức sản xuất chủ động hơn trước những biến động của tự nhiên.
Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Nghị quyết xác định phát triển kinh tế biển phải gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường và khai thác hiệu quả các nguồn lực biển; đồng thời nhấn mạnh phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, bền vững, trong đó có nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản.
Tại Thanh Hóa, quá trình chuyển đổi đang diễn ra rõ nét ở nhiều vùng nuôi ven biển. Các mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trong nhà màng, nhà lưới, bể nổi, kết hợp hệ thống cung cấp ôxy, xử lý nước và sử dụng chế phẩm sinh học đang từng bước thay thế cách nuôi phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên.
Toàn tỉnh đã có khoảng 1.000 ha tôm thẻ chân trắng thâm canh theo hướng VietGAP và khoảng 4.200 ha nuôi tôm theo phương thức hữu cơ; riêng tôm sú có khoảng 420 ha đạt chứng nhận hữu cơ. Đáng chú ý, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao đang phát triển tại các địa bàn như Tân Tiến, Hoàng Châu, Vạn Lục, Tiên Trang và Ngọc Sơn. Khoảng 250 ha áp dụng công nghệ cao tại các khu vực này đạt năng suất từ 25-30 tấn/ha/vụ.
Ông Phạm Ngọc Luyến, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Tiến cho biết: Xã có lợi thế vùng triều và bãi ngang rộng, nuôi trồng thủy sản đã trở thành một hướng phát triển kinh tế quan trọng. Đến nay, địa phương có khoảng 300 ha nuôi trồng thủy sản, trong đó hơn 10 ha nuôi tôm thẻ chân trắng theo hình thức công nghiệp. Một số mô hình đạt lợi nhuận khoảng 0,9-1,1 tỷ đồng/ha/năm, cao hơn nhiều lần so với phương thức nuôi truyền thống.
Mô hình của anh Nguyễn Văn Kiên ở thôn 19 là một ví dụ. Từ năm 2017, gia đình anh đầu tư 15 ao nuôi tôm trong nhà màng trên diện tích khoảng 2 ha. Các bể nuôi hình tròn, khung sắt, lót bạt HDPE, có mái che, diện tích khoảng 300 m²/bể. Hệ thống ôxy được bố trí xung quanh bể, cùng các thiết bị phục vụ theo dõi, kiểm soát quá trình nuôi. Việc sử dụng men vi sinh để xử lý nước giúp giảm nguy cơ phát sinh dịch bệnh và hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường.
Với mật độ 380-400 con/m², thời gian mỗi vụ khoảng 115-120 ngày, tỷ lệ sống đạt 83-95%, trọng lượng bình quân 26,5-28 con/kg, mô hình cho sản lượng khoảng 20-25 tấn/vụ. Doanh thu đạt khoảng 10 tỷ đồng/năm, lợi nhuận khoảng 2 tỷ đồng. Không chỉ tạo nguồn thu lớn cho gia đình, mô hình còn tạo việc làm ổn định cho lao động địa phương với mức thu nhập khoảng 8-10 triệu đồng/người/tháng.
Nuôi tôm trong nhà màng, nhà lưới giúp giảm tác động trực tiếp của nắng nóng, mưa lớn và những biến động bất thường của thời tiết. Người nuôi có điều kiện chủ động hơn trong quản lý nhiệt độ, chất lượng nước, lượng ôxy, mật độ nuôi và thời điểm thu hoạch. Việc ứng dụng công nghệ vi sinh, hạn chế sử dụng kháng sinh cũng góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Đặc biệt, với đặc tính nhạy cảm của tôm thẻ chân trắng, khả năng kiểm soát môi trường có ý nghĩa quyết định đến thành công của vụ nuôi. Khi nhiệt độ và các yếu tố môi trường trong ao biến động nhanh, tôm dễ bị stress, sức đề kháng giảm và nguy cơ dịch bệnh gia tăng. Nhà màng, nhà lưới cùng hệ thống kiểm soát môi trường giúp người nuôi giảm bớt những rủi ro này, từ đó nâng cao tỷ lệ sống và năng suất.
Từ thực tế Thanh Hóa, có thể thấy nuôi tôm công nghệ cao không đơn thuần là một mô hình sản xuất nông nghiệp có năng suất cao mà đang tạo ra những tác động rộng hơn đối với kinh tế vùng ven biển. Khi giá trị sản xuất tăng, nhu cầu về con giống, thức ăn, thiết bị, vật tư, dịch vụ kỹ thuật, thu hoạch, vận chuyển, sơ chế và tiêu thụ cũng tăng theo. Qua đó, hình thành hệ sinh thái sản xuất, tạo thêm việc làm và mở rộng cơ hội sinh kế cho cư dân ven biển.
Sự tham gia ngày càng nhiều của doanh nghiệp và hợp tác xã cũng là yếu tố quan trọng. Từ những hộ nuôi riêng lẻ, các liên kết sản xuất và tiêu thụ đang từng bước hình thành, tạo điều kiện chuyển từ sản xuất nhỏ sang quy mô lớn hơn. Khi vùng nuôi được tổ chức bài bản, quy trình kỹ thuật được thống nhất, sản phẩm có thể truy xuất nguồn gốc và chất lượng được kiểm soát, khả năng đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu sẽ được nâng lên.
Đây cũng là hướng cụ thể hóa yêu cầu phát triển kinh tế biển hiện đại mà Nghị quyết 20-NQ/TW đặt ra. Nghị quyết nhấn mạnh việc phát triển mạnh các ngành kinh tế biển theo hướng xanh, bền vững; đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp, hiện đại, nâng cao năng lực quản trị rủi ro và bảo vệ môi trường. Nghị quyết đồng thời đặt yêu cầu phát triển kinh tế biển phải đi đôi với bảo tồn hệ sinh thái, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Với nghề nuôi tôm, những yêu cầu đó càng có ý nghĩa bởi đây là lĩnh vực có khả năng tạo giá trị kinh tế cao nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về môi trường. Nếu phát triển nóng, thiếu kiểm soát, việc gia tăng mật độ nuôi có thể kéo theo áp lực về nước thải, dịch bệnh và suy giảm chất lượng môi trường. Vì vậy, công nghệ cao chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng quy hoạch vùng nuôi, xử lý nước, kiểm soát chất thải, sử dụng chế phẩm sinh học và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật.
Nghị quyết 20-NQ/TW cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế biển và ven biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước; trong đó tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp khoảng 70% GDP cả nước, giá trị sản xuất nuôi biển tăng bình quân khoảng 8%/năm và tỷ trọng nuôi biển trong tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 15%. Đây là những mục tiêu lớn, tạo định hướng để các địa phương ven biển khai thác tốt hơn tiềm năng, đồng thời chuyển mạnh sang các phương thức sản xuất có năng suất, giá trị gia tăng và tính bền vững cao.
Đối với Thanh Hóa, phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao vì vậy cần được nhìn trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế biển, thay vì chỉ coi đây là giải pháp nâng năng suất cho từng hộ nuôi. Điều quan trọng là hình thành các vùng nuôi tập trung, có hạ tầng đồng bộ; khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia; tăng cường liên kết giữa người nuôi với cơ sở cung cấp giống, thức ăn, vật tư và đơn vị thu mua, chế biến.
Cùng với đó, cần chú trọng đào tạo kỹ thuật cho người dân. Nuôi thâm canh, siêu thâm canh đòi hỏi người nuôi phải nắm chắc quy trình, theo dõi thường xuyên các chỉ tiêu môi trường và xử lý kịp thời những bất thường. Đây cũng là mô hình có chi phí đầu tư ban đầu tương đối lớn, vì vậy cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp để các hộ có năng lực, doanh nghiệp và hợp tác xã mạnh dạn đầu tư nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả và an toàn.
Về lâu dài, việc phát triển nuôi tôm công nghệ cao cần hướng đến một chuỗi giá trị hoàn chỉnh, trong đó sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ và xây dựng thương hiệu. Khi con tôm được sản xuất theo quy trình an toàn, kiểm soát tốt dư lượng, môi trường và truy xuất được nguồn gốc, giá trị sản phẩm sẽ không chỉ nằm ở sản lượng thu hoạch mà còn ở chất lượng và khả năng tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao.