Quảng Ngãi đang định hướng kết nối tài nguyên rừng, cao nguyên, văn hóa bản địa với biển, đảo để hình thành không gian du lịch xanh, trong đó bảo tồn thiên nhiên, phát huy giá trị văn hóa và tạo sinh kế cho cộng đồng được đặt song hành với phát triển du lịch.
Với địa hình trải dài từ vùng núi, cao nguyên xuống đồng bằng, ven biển và hải đảo, Quảng Ngãi có điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch dựa trên tài nguyên tự nhiên và văn hóa. Tuy nhiên, hướng đi được tỉnh xác định không đơn thuần là khai thác cảnh quan để thu hút khách mà phải gắn du lịch với bảo vệ tài nguyên, môi trường và lợi ích của cộng đồng.
Theo Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 22/6/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 về phát triển du lịch bền vững, Quảng Ngãi xác định du lịch phải phát triển song hành với bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, gìn giữ bản sắc văn hóa và bảo đảm lợi ích của cộng đồng.
Ở khu vực miền núi phía Tây, tài nguyên rừng, hệ sinh thái tự nhiên, thác, suối, cảnh quan cùng đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số là những lợi thế để phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và trải nghiệm. Các khu rừng đặc dụng, Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, Vườn quốc gia Chư Mom Ray được định hướng nghiên cứu để hình thành thêm sản phẩm du lịch, trên nguyên tắc khai thác có kiểm soát và bảo tồn đa dạng sinh học.
Những giá trị đặc hữu như Sâm Ngọc Linh, dược liệu, không gian văn hóa cồng chiêng, lễ hội, nghề thủ công và đời sống cộng đồng cũng được xem là nguồn tài nguyên quan trọng. Cùng với đó, sản phẩm OCOP, đặc sản, ẩm thực, quà lưu niệm và dược liệu địa phương được kết nối với hoạt động du lịch.
Cách tiếp cận này mở ra vai trò lớn hơn cho người dân địa phương. Thay vì chỉ tham gia cung cấp dịch vụ, cộng đồng có thể trở thành chủ thể của các sản phẩm du lịch, trực tiếp hưởng lợi từ việc bảo tồn cảnh quan, văn hóa và phát huy các giá trị bản địa.
Đây cũng là hướng để du lịch góp phần tạo sinh kế tại chỗ, nhất là ở khu vực miền núi, nơi tài nguyên tự nhiên và văn hóa còn khá nguyên bản nhưng sinh kế của người dân vẫn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, lâm nghiệp.
Kết nối rừng, cao nguyên với biển, đảo
Không gian du lịch xanh của Quảng Ngãi được đặt trong mối liên kết giữa các vùng thay vì phát triển từng điểm đến riêng lẻ. Đến năm 2030, tỉnh định hướng hình thành tam giác phát triển du lịch với ba hạt nhân là Trung tâm du lịch biển - đảo Lý Sơn, Khu du lịch Măng Đen và Di tích quốc gia đặc biệt Văn hóa Sa Huỳnh. Từ các cực này, các tuyến kết nối cao nguyên với biển, đảo sẽ mở rộng không gian trải nghiệm cho du khách.
Tại Lý Sơn, các giá trị về hệ sinh thái, địa chất, cảnh quan và văn hóa biển đảo là nền tảng để phát triển du lịch. Các hoạt động tham quan, tắm biển, lặn biển, chèo kayak, thể thao biển được định hướng đi cùng yêu cầu bảo vệ môi trường. Những di sản gắn với Hải đội Hoàng Sa, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa hay lễ hội đua thuyền truyền thống tứ linh tiếp tục được phát huy để tạo bản sắc cho điểm đến.
Trong khi đó, không gian văn hóa Sa Huỳnh được định hướng phát triển thành điểm đến trải nghiệm văn hóa, lịch sử và khảo cổ. Nghề làm muối, nghề gốm cùng các giá trị di sản vật thể, phi vật thể sẽ được kết nối với hoạt động du lịch. Ở phía Tây, văn hóa cồng chiêng, lễ hội truyền thống, nghề thủ công và đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số được đưa vào các sản phẩm du lịch cộng đồng, trải nghiệm.
Mục tiêu của tỉnh đến năm 2030 là đón khoảng 10 triệu lượt khách, trong đó 550.000 lượt khách quốc tế; doanh thu khoảng 7.400 tỷ đồng, đóng góp bình quân khoảng 5% vào GRDP và giải quyết việc làm cho khoảng 21.000 lao động. Thời gian lưu trú bình quân được đặt mục tiêu 3 ngày, cho thấy định hướng không chỉ tăng lượng khách mà còn nâng chất lượng sản phẩm để giữ chân du khách.
Quảng Ngãi cũng dự kiến công nhận mới 2 - 3 khu du lịch cấp tỉnh và 15 khu, điểm, làng du lịch cộng đồng; thu hút khoảng 5 dự án du lịch đạt tiêu chuẩn 4 - 5 sao. Khu du lịch Mỹ Khê được định hướng phát triển để sớm trở thành khu du lịch quốc gia; Măng Đen trở thành trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng; Lý Sơn trở thành trung tâm du lịch biển đảo của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Để các mục tiêu tăng trưởng xanh không dừng ở định hướng, tỉnh đặt yêu cầu xây dựng quy chế quản lý tài nguyên tại các khu, điểm du lịch; kiểm soát ô nhiễm; đầu tư hệ thống nhà vệ sinh đạt chuẩn; nâng cao hiệu quả thu gom, xử lý rác thải trên đất liền và mặt nước. Đây là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt tại các điểm đến nhạy cảm như rừng, biển đảo và các khu du lịch cộng đồng.
Chuyển đổi số cũng được xác định là công cụ hỗ trợ quản lý và quảng bá, với việc xây dựng dữ liệu du lịch dùng chung, bản đồ số, nền tảng quảng bá và quản lý điểm đến thông minh.
Xa hơn, đến năm 2045, Quảng Ngãi đặt mục tiêu đón khoảng 30 triệu lượt khách, trong đó 2 triệu lượt khách quốc tế; doanh thu khoảng 28.000 tỷ đồng, đóng góp của du lịch vào GRDP bình quân khoảng 10%. Tỉnh phấn đấu Khu du lịch biển Mỹ Khê, Khu du lịch sinh thái Măng Đen và đặc khu Lý Sơn đạt chuẩn khu du lịch cấp quốc gia, Lý Sơn trở thành trung tâm du lịch biển đảo quốc gia.
Để đi tới những mục tiêu này, bài toán không chỉ nằm ở hạ tầng hay các dự án du lịch quy mô lớn. Sức cạnh tranh lâu dài còn phụ thuộc vào khả năng giữ được rừng, hệ sinh thái biển đảo, văn hóa Sa Huỳnh, không gian cồng chiêng và những giá trị cộng đồng.
Khi các tài nguyên được kết nối thành sản phẩm du lịch có trách nhiệm, người dân được tham gia và hưởng lợi, còn môi trường được đặt trong giới hạn khai thác, du lịch có thể trở thành một động lực để bảo tồn thay vì tạo thêm áp lực lên tài nguyên. Đó cũng là nền tảng để Quảng Ngãi xây dựng không gian du lịch xanh có bản sắc và sức cạnh tranh dài hạn.