Với mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại và thích ứng với biến đổi khí hậu, Thanh Hóa vừa ban hành Kế hoạch hành động triển khai Đề án sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2050. Kế hoạch đặt ra những mục tiêu cụ thể, gắn giảm phát thải với nâng cao giá trị nông sản và phát triển bền vững.
Định hình nền sản xuất trồng trọt phát thải thấp
Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện cam kết đưa phát thải ròng về "0" vào năm 2050 theo COP26, chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh và phát thải thấp đang trở thành yêu cầu tất yếu. Tại Thanh Hóa, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch hành động triển khai Đề án sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2050 nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Bộ Nông nghiệp và Môi trường phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương.
Theo kế hoạch, mục tiêu tổng quát là triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, công nghệ và quản lý nhằm giảm phát thải khí nhà kính trong toàn ngành trồng trọt; đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi trường, cải thiện sinh kế cho người dân và xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, có khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Điểm đáng chú ý là Thanh Hóa đặt mục tiêu đến năm 2035 góp phần cùng cả nước giảm ít nhất 15% tổng lượng phát thải khí nhà kính của lĩnh vực trồng trọt so với năm cơ sở 2020. Song song với đó là xây dựng nhãn hiệu "phát thải thấp" cho các sản phẩm trồng trọt, tạo lợi thế cạnh tranh khi tham gia thị trường trong nước và quốc tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh dự kiến triển khai ít nhất hai mô hình sản xuất quy mô lớn với tổng diện tích hơn 51.000 ha, gồm 50.000 ha lúa và 1.000 ha mía có khả năng chứng nhận tín chỉ carbon. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm từng bước đưa nông nghiệp Thanh Hóa tham gia thị trường carbon trong tương lai.
Bên cạnh đó, sáu mô hình điểm sẽ được xây dựng trên các cây trồng chủ lực của tỉnh, bao gồm mô hình lúa áp dụng kỹ thuật tưới ướt - khô xen kẽ (AWD), ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất lúa giảm phát thải, mô hình nông nghiệp tái tạo trên cây mía, sử dụng phân hữu cơ cho rau màu, than sinh học Biochar trên cây dứa và phân nhả chậm trên cây ăn quả. Đây đều là những giải pháp đã được đánh giá có khả năng giảm phát thải khí nhà kính đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vật tư đầu vào và cải thiện độ phì của đất.
Kế hoạch cũng hướng đến mục tiêu dài hạn là đến năm 2050, 100% diện tích cây trồng chủ lực của tỉnh áp dụng quy trình canh tác bền vững, giảm phát thải; xây dựng hoàn chỉnh cơ sở dữ liệu số hóa về phát thải trong lĩnh vực trồng trọt, kết nối với hệ thống giám sát quốc gia.
Đồng bộ giải pháp từ hạ tầng, công nghệ đến thị trường
Để bảo đảm kế hoạch đi vào thực tiễn, Thanh Hóa xây dựng hệ thống nhiệm vụ khá toàn diện, từ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao năng lực cho người sản xuất đến đầu tư hạ tầng và phát triển thị trường.
Một trong những giải pháp trọng tâm là chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với từng vùng sinh thái, khuyến khích phát triển các loại cây lâu năm có khả năng hấp thụ carbon, đồng thời chuyển diện tích lúa kém hiệu quả sang cây trồng cạn hoặc mô hình luân canh lúa - màu nhằm cải thiện sức khỏe đất và giảm phát thải.
Song hành với đó là chương trình đào tạo, tập huấn kéo dài trong suốt giai đoạn 2026-2035 dành cho cán bộ kỹ thuật, lực lượng khuyến nông và nông dân về các nội dung như kỹ thuật canh tác giảm phát thải, quản lý nước và dinh dưỡng, xử lý phụ phẩm, công nghệ số, truy xuất nguồn gốc cũng như công cụ MRV (đo lường, báo cáo và thẩm định phát thải). Tỉnh cũng xây dựng bộ tài liệu chuẩn hóa, tổ chức hội thảo, tăng cường truyền thông nhằm thay đổi nhận thức của người sản xuất về lợi ích kinh tế và môi trường của nông nghiệp phát thải thấp.
Đáng chú ý, Thanh Hóa đặt mục tiêu tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế như FAO, WB, GIZ, UNDP, IFAD, JICA để tiếp cận công nghệ, nâng cao năng lực MRV và từng bước kết nối với thị trường tín chỉ carbon. Đây được xem là hướng đi phù hợp khi các tiêu chuẩn xanh ngày càng trở thành "giấy thông hành" đối với nông sản xuất khẩu.
Ở khía cạnh hạ tầng, kế hoạch yêu cầu rà soát, nâng cấp hệ thống thủy lợi, kênh mương nội đồng để đáp ứng yêu cầu canh tác giảm phát thải, đặc biệt phục vụ kỹ thuật tưới ướt - khô xen kẽ trên cây lúa. Đồng thời phối hợp với các đơn vị khai thác công trình thủy lợi xây dựng lịch điều tiết nước phù hợp, bảo đảm vừa tiết kiệm nước vừa giảm phát thải khí methane từ ruộng lúa.
Không chỉ dừng ở khâu sản xuất, tỉnh còn chú trọng kết nối chuỗi giá trị. Theo đó, các vùng sản xuất tập trung sẽ được hình thành gắn với doanh nghiệp để tổ chức sản xuất theo chuỗi, áp dụng truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu "nông sản phát thải thấp". Mục tiêu đến năm 2035 có ít nhất 2-3 sản phẩm chủ lực như lúa, gạo, mía được chứng nhận nhãn hiệu phát thải thấp, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời, hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá, mở rộng xuất khẩu đối với các sản phẩm nông sản giảm phát thải cũng sẽ được tăng cường.
Theo phụ lục của kế hoạch, giai đoạn 2026-2030, Thanh Hóa sẽ triển khai khoảng 30.000 ha lúa áp dụng kỹ thuật AWD tại các vùng Yên Định, Thiệu Hóa, Quảng Xương, Nông Cống, Hà Trung, Triệu Sơn, Thọ Xuân, Vĩnh Lộc... cùng 1.000 ha mía nông nghiệp tái tạo tại Thọ Xuân, Thạch Thành, Ngọc Lặc và Như Thanh. Giai đoạn 2030-2035 sẽ tiếp tục mở rộng thêm khoảng 20.000 ha lúa tại Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Như Thanh, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Nga Sơn, Nghi Sơn...
Có thể thấy, Kế hoạch hành động của Thanh Hóa không chỉ hướng tới mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính mà còn mở ra hướng phát triển mới cho ngành trồng trọt thông qua ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu nông sản xanh và tham gia thị trường tín chỉ carbon. Nếu được triển khai đồng bộ, đây sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cao giá trị gia tăng, tăng sức cạnh tranh của nông sản và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững trong giai đoạn tới.