Với hơn 102 km bờ biển, nguồn lợi hải sản phong phú và vị trí nằm trong ngư trường trọng điểm vịnh Bắc Bộ, Thanh Hóa đang từng bước đưa thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Từ khai thác xa bờ, nuôi trồng công nghệ cao đến chế biến xuất khẩu và chống khai thác IUU, địa phương này đang hướng tới mục tiêu phát triển nghề cá hiện đại, minh bạch và bền vững.
Ngư trường giàu tiềm năng
Từ nhiều đời nay, biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là nguồn sinh kế quan trọng của hàng vạn cư dân ven biển Thanh Hóa. Trên dải bờ biển kéo dài từ Nga Sơn đến Nghi Sơn, những đoàn tàu đánh cá nối đuôi nhau ra khơi mỗi ngày đã trở thành hình ảnh quen thuộc, phản chiếu nhịp sống sôi động của một vùng kinh tế biển đang chuyển mình mạnh mẽ.
Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, vùng biển Thanh Hóa hiện có tới 426 loài hải sản thuộc 203 giống, 101 họ, chiếm gần 70% tổng số loài được ghi nhận tại vịnh Bắc Bộ. Tổng trữ lượng nguồn lợi hải sản ước đạt từ 140.000 đến 165.000 tấn. Đặc biệt, khu vực đảo Hòn Mê được xem như “kho báu sinh học” với nhiều loài hải sản giá trị cao như cá mú, bào ngư, tôm hùm, nhuyễn thể và các loại rong biển quý.
Nguồn lợi phong phú ấy đã tạo nền tảng để Thanh Hóa phát triển nghề khai thác hải sản quy mô lớn, hình thành nhiều làng biển trù phú như Sầm Sơn, Diêm Phố, Hải Thanh, Hải Bình, Quảng Nham hay Hòa Lộc. Không chỉ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, ngành thủy sản còn giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an sinh xã hội, tạo việc làm ổn định cho hàng chục nghìn lao động ven biển.
Hiện, toàn tỉnh có hơn 6.500 tàu cá các loại, trong đó hơn 1.100 tàu khai thác xa bờ. Đội tàu này không chỉ tham gia khai thác hải sản mà còn góp phần khẳng định chủ quyền biển đảo trên các ngư trường truyền thống của Tổ quốc. Hệ thống hậu cần nghề cá gồm 8 cảng cá, 4 khu neo đậu tránh trú bão với sức chứa hơn 2.000 tàu thuyền đang từng bước được đầu tư đồng bộ, đáp ứng nhu cầu bốc dỡ, bảo quản và tiêu thụ hải sản.
Những năm gần đây, sản lượng khai thác của Thanh Hóa liên tục duy trì ở mức cao. Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản khai thác đạt hơn 143.000 tấn, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Con số này cho thấy tiềm năng khai thác biển của địa phương vẫn còn rất lớn nếu được quản lý hợp lý và tổ chức sản xuất hiệu quả.
Tuy nhiên, trong bối cảnh nguồn lợi ven bờ suy giảm và biến đổi khí hậu ngày càng tác động rõ rệt, ngành thủy sản Thanh Hóa không còn chỉ đặt mục tiêu tăng sản lượng đơn thuần. Thay vào đó, địa phương đang từng bước chuyển đổi theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, giảm khai thác tận diệt và chú trọng phát triển bền vững.
Một trong những thay đổi rõ nét là việc tổ chức lại sản xuất trên biển. Nhiều tổ đội đoàn kết khai thác xa bờ được thành lập nhằm hỗ trợ nhau trong sản xuất, giảm chi phí nhiên liệu và tăng hiệu quả đánh bắt. Các tàu cá công suất lớn dần thay thế tàu nhỏ khai thác ven bờ. Ngư dân cũng từng bước ứng dụng công nghệ định vị, dò cá, bảo quản lạnh hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm.
Tại các làng chài ven biển, nhịp sống ngư dân hôm nay cũng đang đổi thay theo hướng chuyên nghiệp hơn. Nếu như trước đây việc đánh bắt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống thì nay nhiều chủ tàu đã chủ động tiếp cận kỹ thuật mới, tìm hiểu quy định thị trường xuất khẩu và nâng cao nhận thức trong khai thác hợp pháp.
Anh Lê Văn Hải, chủ tàu cá tại phường Nam Sầm Sơn, chia sẻ rằng việc tuân thủ quy định về giám sát hành trình và khai báo nguồn gốc thủy sản không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là cách để nghề cá phát triển bền vững hơn. “Ngư dân giờ hiểu rằng muốn bán được giá cao, muốn đưa hải sản ra thị trường lớn thì phải làm ăn minh bạch và đúng quy định”, anh nói.
Hướng đi của kinh tế biển bền vững
Nếu khai thác biển là thế mạnh truyền thống thì nuôi trồng thủy sản đang trở thành động lực tăng trưởng mới của ngành thủy sản Thanh Hóa trong bối cảnh nguồn lợi tự nhiên chịu nhiều sức ép.
Hiện, toàn tỉnh có khoảng 19.200 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, trong đó hơn 4.200 ha nuôi nước lợ, 1.000 ha nuôi nước mặn và hơn 5.700 lồng bè trên biển, sông, cửa lạch. Các địa phương như Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Quảng Xương, Sầm Sơn đã hình thành nhiều vùng nuôi tập trung quy mô lớn.
Điều đáng chú ý là phương thức nuôi đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ quảng canh truyền thống sang thâm canh, công nghệ cao và nuôi sinh thái. Đây được xem là bước đi tất yếu để thích ứng với biến đổi khí hậu, dịch bệnh và yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường.
Tại xã Hoằng Châu, mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao của ông Lê Văn Phương được xem là một trong những điển hình tiêu biểu. Sau nhiều năm trăn trở với nghề nuôi truyền thống bấp bênh, ông mạnh dạn đầu tư tổng số vốn gần 10 tỷ đồng xây dựng hệ thống ao nuôi khép kín trong nhà màng.
Hệ thống ao nuôi được xây dựng bài bản gồm ao nổi lót bạt, ao lắng, ao xử lý nước riêng biệt; lắp đặt quạt nước, hệ thống sục khí tự động và thiết bị theo dõi các chỉ số môi trường như pH, oxy hòa tan, nhiệt độ… Hiện nay, ông Phương liên kết với 4 hộ nuôi, xây dựng 38 ao nuôi trên tổng diện tích 5 ha, tạo việc làm thường xuyên cho 20 lao động địa phương. Quy trình nuôi được áp dụng theo hướng an toàn sinh học. Thay vì sử dụng kháng sinh, hóa chất, ông sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý nước, phân hủy chất hữu cơ, hạn chế ô nhiễm. Các chỉ tiêu môi trường được kiểm tra hằng ngày, kịp thời điều chỉnh khi có biến động.
Nhờ đó, tỷ lệ sống của tôm đạt cao, thời gian nuôi rút ngắn, chi phí được kiểm soát tốt hơn. Trung bình mỗi năm, trang trại nuôi 3 vụ, sản lượng đạt từ 50–70 tấn tôm thương phẩm.Với giá bán dao động 200.000–250.000 đồng/kg, doanh thu bình quân đạt khoảng 12 tỷ đồng/năm, sau khi trừ chi phí còn lãi khoảng 5 tỷ đồng.
Không chỉ nuôi tôm công nghệ cao, nhiều mô hình nuôi hữu cơ và nuôi tuần hoàn cũng đang mang lại hiệu quả tích cực. Tại các vùng triều ven biển Hậu Lộc và Nga Sơn, người dân phát triển mô hình nuôi kết hợp tôm – cua – cá dưới tán rừng ngập mặn, vừa tạo sinh kế vừa góp phần bảo vệ hệ sinh thái.
Đặc biệt, xu hướng sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn sinh học và truy xuất nguồn gốc đang được nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp quan tâm. Đây là điều kiện tiên quyết để thủy sản Thanh Hóa mở rộng thị trường xuất khẩu trong bối cảnh các nước nhập khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn môi trường và an toàn thực phẩm.
Theo ngành nông nghiệp địa phương, việc chuyển đổi sang nuôi trồng công nghệ cao không chỉ giúp tăng năng suất mà còn góp phần thay đổi tư duy sản xuất của người dân. Từ chỗ phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, ngư dân nay đang từng bước làm chủ kỹ thuật, quản trị rủi ro và tiếp cận kinh tế thị trường hiện đại.
Sự phát triển của nuôi trồng thủy sản cũng kéo theo nhiều ngành nghề phụ trợ như sản xuất giống, chế biến thức ăn, dịch vụ thú y thủy sản, logistics lạnh… tạo nên chuỗi giá trị ngày càng hoàn chỉnh cho kinh tế biển Thanh Hóa.
Nâng giá trị từ biển
Nếu chỉ dừng ở khai thác và bán nguyên liệu thô, giá trị kinh tế từ biển sẽ rất hạn chế. Nhận thức rõ điều đó, Thanh Hóa đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến thủy sản nhằm nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Hiện, toàn tỉnh có khoảng 80 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản với tổng công suất khoảng 280.000 tấn/năm. Trong đó có nhiều doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, EU và Mỹ.
Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Thanh Hóa đạt hơn 110 triệu USD. Các sản phẩm chủ lực gồm chả cá surimi, hải sản đông lạnh, ngao chế biến, bột cá, nước mắm, mắm tôm và nhiều mặt hàng giá trị cao khác.
Một trong những thương hiệu tiêu biểu là nước mắm và mắm tôm Lê Gia. Từ một cơ sở sản xuất truyền thống ven biển, doanh nghiệp này đã phát triển thành thương hiệu OCOP 5 sao có mặt tại nhiều hệ thống siêu thị lớn và xuất khẩu sang nhiều quốc gia.
Ông Lê Anh, Giám đốc Công ty TNHH Thực phẩm và Thương mại dịch vụ Lê Gia, cho rằng điều quan trọng nhất là giữ được giá trị truyền thống nhưng phải đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. “Chúng tôi mong muốn khi nhắc đến ‘nuocmam’, thế giới sẽ nghĩ ngay đến Việt Nam giống như cách họ biết đến ‘pho’ hay ‘aodai’”, ông nói.
Cùng với nước mắm, các doanh nghiệp chế biến hải sản đông lạnh cũng đang mở rộng thị trường xuất khẩu. Công ty TNHH Xuất nhập khẩu thủy sản FXPT tại Sầm Sơn mỗi năm chế biến khoảng 700 tấn sushi, sashimi từ mực xuất sang Nhật Bản.
Không dừng ở những sản phẩm truyền thống, doanh nghiệp này còn phát triển thêm nhiều dòng sản phẩm mới như mực nang, bạch tuộc, bề bề và hải sản chế biến sâu để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường quốc tế.
Theo các chuyên gia, dư địa phát triển chế biến thủy sản của Thanh Hóa vẫn còn rất lớn. Địa phương có lợi thế về nguồn nguyên liệu, hệ thống cảng biển và kết nối logistics thuận lợi với Khu kinh tế Nghi Sơn. Nếu đầu tư mạnh hơn vào công nghệ chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và phát triển chuỗi lạnh, thủy sản Thanh Hóa hoàn toàn có thể nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy nhiều cơ sở chế biến vẫn còn quy mô nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, thiếu liên kết vùng nguyên liệu. Đây là “nút thắt” khiến giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng.
Bởi vậy, trong chiến lược phát triển thời gian tới, tỉnh Thanh Hóa xác định phải xây dựng chuỗi liên kết khép kín từ khai thác – nuôi trồng – chế biến – tiêu thụ, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng tiêu chuẩn quốc tế như HACCP, GMP và truy xuất nguồn gốc điện tử.
Hướng tới nghề cá minh bạch, bền vững
Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay đối với ngành thủy sản Việt Nam nói chung và Thanh Hóa nói riêng là yêu cầu chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU).
Những năm gần đây, Thanh Hóa đã triển khai hàng loạt giải pháp quyết liệt nhằm siết chặt quản lý tàu cá và nâng cao ý thức ngư dân. Đến nay, toàn tỉnh có 987/987 tàu cá từ 15 m trở lên lắp đặt thiết bị giám sát hành trình, đạt 100%.
Dữ liệu tàu cá được cập nhật đồng bộ trên hệ thống cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia Vnfishbase. Công tác kiểm tra, kiểm soát tàu ra vào cảng, xác nhận nguồn gốc thủy sản được thực hiện chặt chẽ hơn trước.
Từ đầu năm 2026 đến nay, tỉnh phát hiện 18 lượt tàu mất kết nối giám sát hành trình trên biển và đã xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm. Đáng chú ý, không có tàu cá Thanh Hóa vi phạm vùng biển nước ngoài bị bắt giữ.
Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa, mục tiêu không chỉ là gỡ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu mà quan trọng hơn là xây dựng nghề cá có trách nhiệm và minh bạch. Sở đang rà soát toàn bộ dữ liệu tàu cá, quản lý chặt tàu chuyển nhượng, tàu hoạt động ngoài tỉnh để tránh phát sinh ‘tàu ma’. Đồng thời tăng cường tuyên truyền pháp luật để ngư dân hiểu rằng chống IUU là bảo vệ chính sinh kế lâu dài của mình.
Song song với quản lý khai thác, tỉnh cũng chú trọng tái tạo nguồn lợi thủy sản. Hiện, Thanh Hóa đã thành lập 15 tổ đồng quản lý nghề cá ven bờ với hơn 2.800 thành viên tham gia bảo vệ ngư trường. Các lực lượng chức năng thường xuyên tuần tra, xử lý nghiêm hành vi sử dụng xung điện, chất nổ, ngư cụ cấm hay khai thác loài quý hiếm. Nhiều chương trình thả giống tái tạo nguồn lợi được tổ chức định kỳ nhằm phục hồi hệ sinh thái biển.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy giảm nguồn lợi ngày càng rõ rệt, phát triển nghề cá bền vững không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Từ những đoàn tàu vươn khơi trên ngư trường vịnh Bắc Bộ đến các trang trại nuôi tôm công nghệ cao, từ nhà máy chế biến xuất khẩu đến những làng nghề nước mắm truyền thống, ngành thủy sản Thanh Hóa đang từng bước chuyển mình theo hướng hiện đại và bền vững hơn. Đó không chỉ là hành trình phát triển kinh tế biển, mà còn là nỗ lực giữ gìn nguồn tài nguyên quý giá cho các thế hệ mai sau.