Thu hút hỗ trợ quốc tế cho ứng phó với biến đổi khí hậu

Thu hút hỗ trợ quốc tế cho ứng phó với biến đổi khí hậu

Chủ nhật, 13/9/2026, 09:52 (GMT+7)
logo Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm lớn của toàn hệ thống chính trị và các đối tác phát triển quốc tế. Ứng phó đòi hỏi sự quyết tâm, nỗ lực lớn của mọi quốc gia, quốc gia có điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội, trình độ khoa học và công nghệ khác nhau nên có hành động ứng phó và ưu tiên khác nhau.
images.thumb.14394098-9d3b-4549-b781-b4e480809acd_1788771251.jpg
Ảnh minh họa

Là quốc gia có trách nhiệm và chủ động thực hiện các cam kết quốc tế về BĐKH và sử dụng hiệu quả các nguồn hỗ trợ, Việt Nam có cơ hội, điều kiện thu hút sự hỗ trợ quốc tế cho ứng phó. 

Nhu cầu hỗ trợ quốc tế về tài chính 

Nhu cầu về nguồn lực cho ứng phó với BĐKH là rất lớn, cả về tài chính, công nghệ và nhân lực trong khi tiềm lực nền kinh tế chưa đủ khả năng đáp ứng. Chi phí cho thực hiện các biện pháp thích ứng với BĐKH ước tính khoảng 3 - 5% GDP vào năm 2030. Cùng với việc huy động nguồn lực, thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế trong nước, nguồn lực hỗ trợ về tài chính, công nghệ từ quốc tế là rất quan trọng để thực hiện các hoạt động thích ứng với BĐKH. 

Theo Báo cáo quốc gia về khí hậu và phát triển của Ngân hàng Thế giới, các tác động của BĐKH có thể khiến Việt Nam thiệt hại tổng cộng 12 - 14,5% GDP, tương đương tổng thiệt hại là 400 - 523 tỷ USD tính đến năm 2050. Tổng nhu cầu đầu tư thêm về tài chính cho thích ứng từ năm 2022 đến năm 2040 ước tính khoảng 254 tỷ USD, bao gồm khoảng 219 tỷ USD đầu tư cho hạ tầng và 35 tỷ USD đầu tư cho các chương trình xã hội tăng cường năng lực thích ứng với BĐKH. Bằng nguồn lực trong nước, Việt Nam khó có khả năng đáp ứng nếu không có sự đóng góp từ các nguồn bên ngoài, trong đó có khuyến khích đầu tư tư nhân (cả vào công nghệ và cơ sở hạ tầng có khả năng chống chịu hơn); tài trợ từ ngân sách bằng cách nâng cao nguồn thu bổ sung (từ thị trường các-bon, vốn vay để giảm gánh nặng cho Chính phủ); huy động thêm nguồn thu từ các nguồn tài chính quốc tế (từ các tổ chức đầu tư, các nhà tài trợ đa phương và song phương, đồng thời khai thác nguồn FDI). Do đó, cùng với việc huy động nguồn lực, thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế trong nước, nguồn lực hỗ trợ về tài chính, công nghệ từ các nguồn hợp tác quốc tế rất quan trọng để thực hiện các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với BĐKH.

Nhu cầu hỗ trợ quốc tế để nâng cao khả năng chống chịu và năng lực thích ứng, phát triển nguồn nhân lực phục vụ thích ứng với BĐKH ở nước ta, bao gồm việc: Xây dựng chính sách về BĐKH, hỗ trợ xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách ứng phó với BĐKH; xây dựng cơ chế, chính sách về bảo hiểm, chia sẻ rủi ro khí hậu; xây dựng cơ chế, chính sách lồng ghép nội dung ứng phó với BĐKH vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các dự án, công trình lớn; xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật chuyên ngành của các lĩnh vực nhằm nâng cao khả năng chống chịu và năng lực thích ứng của hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội. Đào tạo đội ngũ cán bộ, hỗ trợ đào tạo cán bộ quản lý nhà nước các cấp về lập kế hoạch, triển khai thực hiện, giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng với BĐKH; đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật có trình độ cao trong các lĩnh vực chuyên ngành ứng phó với BĐKH; đào tạo cán bộ trong giảm thiểu tổn thất và thiệt hại do BĐKH.

 Về thu hút nguồn lực tăng cường khả năng chống chịu và an toàn trước thiên tai gia tăng do BĐKH, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm, bao gồm: Dự báo, cảnh báo thiên tai và các cực đoan khí hậu; ưu tiên phát triển các công nghệ dự báo mưa định lượng; cảnh báo, dự báo lũ quét, sạt lở đất; dự báo dựa trên tác động; dự báo dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi trong điều kiện BĐKH; giám sát, dự báo, cảnh báo tác động của BĐKH đến sức khỏe và các bệnh mới phát sinh do tác động của BĐKH.

Nhu cầu hỗ trợ quốc tế để nâng cao hạ tầng thích ứng với BĐKH: Trồng và bảo vệ rừng, ưu tiên rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng ngập mặn và rừng phòng hộ ven biển; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn các hệ sinh thái, ưu tiên phát triển các khu bảo tồn biển và ven biển; phát triển các mô hình thích ứng dựa vào tự nhiên, dựa vào hệ sinh thái, bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân; nâng cao khả năng chống chịu trước thiên tai và tác động của BĐKH đối với khu vực ven biển.

Thu hút nguồn lực hỗ trợ quốc tế nhằm nâng cao nghiên cứu, chuyển giao công nghệ thích ứng với BĐKH: Nghiên cứu giảm thiểu tổn thất và thiệt hại do BĐKH; nghiên cứu, chuyển giao các công nghệ tiên tiến trong thích ứng với BĐKH; chuyển giao công nghệ phát triển nông nghiệp thông minh; phát triển, chuyển giao các giống cây trồng, vật nuôi thích ứng với BĐKH.

Một số nhiệm vụ trong thời gian tới

Đến nay, Việt Nam đã tham gia 19 điều ước, thỏa thuận quốc tế trong lĩnh vực BĐKH. Tại COP26, Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, giảm phát thải khí mê-tan 30% vào năm 2030 so với năm 2020, Tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch,... Sau COP26, Việt Nam đã đàm phán và thông qua Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng với Nhóm các đối tác quốc tế trong và ngoài G7,... Đó là những điểm nhấn quan trọng trong bức tranh hội nhập của đất nước với quốc tế về BĐKH, qua đó khẳng định vị thế, mang lại cho Việt Nam những lợi ích “kép” từ cơ hội tiếp cận tri thức, công nghệ, tài chính xanh, thực hiện tái cơ cấu lại nền kinh tế cũng như chủ động ứng phó với BĐKH. Cho đến nay, Việt Nam đã phát hành 564 triệu USD trái phiếu xanh và nền kinh tế còn nhiều tiềm năng để phát triển trong lĩnh vực này. Trong số 564 triệu USD đó, đầu tư cho giảm phát thải bằng trái phiếu xanh ở Việt Nam vào khoảng 415,8 triệu USD và các hoạt động thích ứng ghi nhận 148,2 triệu USD. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam đã khá thành công trong thu hút vốn FDI. Tuy vậy, hệ số tiêu hao năng lượng tính trên 1% tốc độ tăng trưởng mặc dù đã giảm từ 2,1 trong những năm đầu thiên niên kỷ mới xuống khoảng 1,3 hiện nay, nhưng vẫn còn cao hơn nhiều so với yêu cầu của nền kinh tế bền vững và các hoạt động kinh tế thân thiện với môi trường, ứng phó với BĐKH. Về hợp tác công tư (PPP), Việt Nam có khoảng 146 dự án PPP lớn với giá trị ước tính khoảng 2,71 tỷ USD cho các hoạt động BĐKH được thực hiện. Trong đó, các dự án cho giảm phát thải đạt 2,2 tỷ USD, cho thích ứng là khoảng 533,4 triệu USD. Phần lớn đầu tư vào lĩnh vực năng lượng sạch và tái tạo, chiếm 90% tổng vốn đầu tư theo hình thức PPP tại Việt Nam.

Ứng phó với BĐKH trên toàn cầu và ở nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, với những cơ hội từ việc Việt Nam đã và đang tham gia sâu và thực chất vào nỗ lực chung của toàn cầu. Việt Nam đã chủ động ứng phó với BĐKH thông qua việc hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý về BĐKH. Các cam kết của Việt Nam về ứng phó với BĐKH được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, tuy nhiên để hiện thực hóa các cam kết đó cũng đặt ra những thách thức lớn đối với Việt Nam trong thời gian tới, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, huy động hỗ trợ của quốc tế về nguồn lực tài chính, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản trị.

Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về ứng phó với BĐKH cũng như để phát huy hiệu quả việc sử dụng các nguồn lực trong bối cảnh mới, một số giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm, ứng phó với BĐKH được Cục BĐKH đề xuất, như: Nghiên cứu xây dựng Nghị quyết chuyên đề về bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH để trình Ban Chấp hành Trung ương vào năm 2027, nhằm thực hiện Kết luận số 81-KL/TW ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu đề xuất và xây dựng Luật BĐKH để trình Quốc hội xem xét, thông qua vào năm 2029 nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về trung hòa các-bon, bảo vệ tầng ô-dôn và thích ứng với BĐKH; tạo khung pháp lý đồng bộ, thống nhất về thích ứng với BĐKH, giảm phát thải và tăng cường hấp thụ khí nhà kính trong các lĩnh vực của nền kinh tế, thúc đẩy các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia. Hoàn thiện các quy định pháp lý về trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon với quốc tế, làm cơ sở triển khai hợp tác trao đổi kết quả giảm phát thải và tín chỉ các-bon với các đối tác quốc tế. Triển khai phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho các cơ sở phát thải khí nhà kính, tổ chức vận hành thị trường các-bon trong nước đồng thời với việc triển khai thực hiện các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon. Triển khai thực hiện tốt các cam kết ứng phó với BĐKH, trong đó tập trung xây dựng và triển khai thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định giai đoạn 2026 - 2035; thực hiện Chiến lược quốc gia về BĐKH hướng tới mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và các kế hoạch hành động quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ô-dôn và thích ứng với BĐKH.

Là quốc gia đang phát triển còn hạn chế về nguồn lực, nhưng Việt Nam luôn quan tâm, thực hiện toàn diện và đồng bộ nhiều giải pháp tăng cường sức chống chịu và khả năng thích ứng với BĐKH, bao gồm xây dựng, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện chính sách quan trọng; tăng cường nâng cao nhận thức của toàn xã hội về thích ứng với BĐKH; thực hiện có trách nhiệm các cam kết quốc tế về thích ứng với BĐKH. Qua đó, bước đầu đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong nâng cao khả năng chống chịu và năng lực thích ứng.

Nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn tới là triển khai tổng thể, toàn diện và hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên được đề ra trong Kế hoạch quốc gia thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (cập nhật) nhằm giảm thiểu mức độ dễ bị tổn thương và rủi ro trước những tác động tiêu cực của BĐKH, giảm thiểu tổn thất và thiệt hại do BĐKH và thúc đẩy việc lồng ghép thích ứng với BĐKH vào chiến lược, quy hoạch. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp đề ra, Việt Nam cần phát huy hiệu quả sự tham gia của toàn xã hội, nhất là khối doanh nghiệp và tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế nhằm tận dụng được các cơ hội về phát triển, tiếp nhận chuyển giao công nghệ và tri thức quán trị về thích ứng với BĐKH, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu thích ứng toàn cầu.

Hoàng Nguyên