news
Từ đột phá tư duy quản trị đến hành động phát triển bền vững

Từ đột phá tư duy quản trị đến hành động phát triển bền vững

Thứ tư, 23/9/2026, 16:45 (GMT+7)
logo Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (Nghị quyết số 20-NQ/TW) là một văn kiện mang tính bước ngoặt lịch sử, xác lập tầm nhìn đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh vào năm 2045. Với mục tiêu xây dựng nền kinh tế biển xanh, hiện đại gắn liền với bảo vệ chủ quyền, Nghị quyết định hướng sự chuyển đổi toàn diện từ tư duy khai thác tài nguyên sang quản trị không gian biển hiện đại, bền vững và thống nhất, bảo đảm lợi ích quốc gia trên trường quốc tế gắn liền với bảo vệ hệ sinh thái và an sinh xã hội bền vững cho nhân dân.
trang-11_1789960277.jpg
Ảnh minh họa

Yêu cầu khách quan và sự dịch chuyển tư duy quản trị không gian sinh tồn biển đảo trong kỷ nguyên phát triển mới

Việc ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, do đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng ký ban hành, đã phản ánh một tư duy tầm vóc về vận mệnh quốc gia gắn liền với đại dương trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Bối cảnh quốc tế và trong nước hiện nay, cùng với vị trí địa lý đặc thù và vai trò đặc biệt quan trọng của biển và đại dương, đã đặt ra yêu cầu khách quan mang tính thời đại là Việt Nam phải nhanh chóng vươn lên trở thành một quốc gia biển mạnh. Biển và đảo Việt Nam không đơn thuần là nơi chứa đựng tài nguyên thiên nhiên, mà chính là không gian sinh tồn, không gian phát triển chiến lược gắn chặt với chủ quyền thiêng liêng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta khẳng định xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là một chiến lược phát triển đất nước lâu dài, là nhiệm vụ chiến lược trọng yếu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Theo lộ trình đã xác lập, mục tiêu cụ thể đến năm 2030 là hình thành cho được một hệ thống quản trị biển quốc gia hiện đại, thống nhất và đồng bộ, làm tiền đề vững chắc để kinh tế biển phát triển hiện đại và có năng lực cạnh tranh cao trên trường quốc tế.

Những con số chỉ tiêu được đưa ra trong Nghị quyết mang tính cam kết chính trị và khát vọng dân tộc rất lớn: Tổng GRDP của các tỉnh và thành phố ven biển phải đóng góp hơn 70% GDP của cả nước; thu nhập bình quân đầu người tại các địa phương này phấn đấu cao hơn mức trung bình chung của cả quốc gia từ 1,2 đến 1,3 lần; tốc độ tăng trưởng kinh tế của các địa phương ven biển đạt trên 11% mỗi năm. Việt Nam cũng hướng tới việc hình thành 3 khu kinh tế đặc biệt và bảo đảm chỉ số phát triển con người (HDI) của cư dân vùng biển cao hơn mức trung bình toàn quốc. Tầm nhìn xa hơn đến năm 2045 là một Việt Nam giàu từ biển, mạnh từ biển và phát triển bền vững từ biển, sở hữu nền quản trị biển hiện đại cùng trình độ khoa học, công nghệ biển tiên tiến ngang tầm khu vực và thế giới. 

Thực trạng phát triển và yêu cầu thực tiễn trong tình hình mới đòi hỏi một bước chuyển dịch mạnh mẽ và triệt để về nhận thức và tư duy chiến lược. Chúng ta cần chuyển dịch một cách căn bản từ tư duy khai thác tài nguyên và phát triển kinh tế biển đơn thuần sang tư duy phát triển toàn diện không gian biển quốc gia. Biển phải được khẳng định là không gian phát triển chiến lược, là động lực tăng trưởng mới, nơi hội tụ các lợi ích cốt lõi từ kinh tế, quốc phòng, an ninh đến khoa học, công nghệ, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Yêu cầu này đòi hỏi phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về biển, thực hiện chuyển mạnh từ mô hình quản lý theo ngành dọc chia cắt sang mô hình quản trị hiện đại, tổng hợp và thống nhất không gian biển quốc gia dựa trên nền tảng dữ liệu số và quy hoạch không gian biển.

Quản trị biển hiện đại theo tinh thần Nghị quyết không chỉ giới hạn ở mặt nước mà phải được thực hiện đồng bộ từ vùng biển, đáy biển, lòng đất dưới biển cho đến các hải đảo, vùng ven biển và vùng trời trên biển. Đây là mô hình quản trị đa tầng, đa lợi ích, đảm bảo sự liên kết và điều phối hiệu quả giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương. Trong đó, việc hài hòa các mối quan hệ giữa phát triển và bảo tồn, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích địa phương, giữa phát triển kinh tế với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và đối ngoại là chìa khóa của sự bền vững. Việc mở rộng không gian phát triển quốc gia ra biển xa, biển sâu và các không gian biển mới là hướng đi tất yếu để nâng cao năng lực dự báo chiến lược, quản trị rủi ro và tăng cường vai trò của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác, quản trị biển, đại dương ở quy mô khu vực và toàn cầu.

Đồng thời, sự kiện toàn và đổi mới toàn diện cơ chế điều phối liên ngành về biển và đại dương theo hướng thống nhất, tập trung là yếu tố then chốt để Chính phủ thống nhất quản lý, trong đó giao một cơ quan chủ trì điều phối rõ ràng về chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan liên quan. Sự chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc huy động khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để hiện thực hóa mục tiêu quốc gia biển mạnh một cách vững chắc nhất.

Hệ thống giải pháp đột phá, nhiệm vụ trọng tâm và hành trình kiến tạo hệ sinh thái kinh tế biển xanh bền vững

Để hiện thực hóa những mục tiêu đã được xác lập, Nghị quyết số 20-NQ/TW đã vạch ra 9 nhóm nhiệm vụ và giải pháp mang tính đột phá, trong đó nội dung đổi mới quản trị không gian biển quốc gia được xác định là cốt lõi của việc hoàn thiện thể chế phát triển. Nhiệm vụ hàng đầu là khẩn trương rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực liên quan để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch, ổn định, khả thi và có sức cạnh tranh quốc tế cao. Việc này nhằm tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn, chồng chéo, mâu thuẫn và giải phóng mọi nguồn lực, đồng thời chủ động nhận diện, dự báo và đón đầu các xu hướng phát triển mới. Hoàn thiện pháp luật về tài nguyên, môi trường biển phải xác lập được các nguyên tắc quản trị hiện đại, thống nhất, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững biển và đại dương. Các cơ chế về giao, cho thuê, đấu giá, đăng ký và cấp giấy chứng nhận sử dụng không gian biển cần được quy định rõ ràng về quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia, bao gồm cả quyền chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn và cho thuê lại để tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các hoạt động kinh tế. 

Đặc biệt, công tác quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cần được khẩn trương cập nhật và điều chỉnh để bảo đảm sự kết nối chặt chẽ giữa không gian đất liền, biển và vùng trời, định hướng không gian phát triển đa tầng, đa ngành cho các vùng trọng điểm. Quy hoạch này phải thực sự trở thành công cụ quản lý tổng hợp có tính ràng buộc đối với toàn bộ hệ thống quy hoạch ngành và địa phương, là căn cứ pháp lý duy nhất để phân bổ nguồn lực và xử lý các xung đột, tránh chồng lấn trong sử dụng không gian biển. Mọi hoạt động lấn biển phải được thực hiện trên cơ sở quy hoạch nghiêm ngặt, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đồng thời, việc xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát triển hạ tầng và các ngành kinh tế biển mới cho các đặc khu, đảo tiền tiêu là vô cùng cần thiết.

Về nguồn lực, Nghị quyết nhấn mạnh việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực thông qua đa dạng hóa hình thức huy động vốn, thúc đẩy tài chính xanh và ưu tiên cho các địa bàn và dự án trọng điểm có sức lan tỏa lớn. Một điểm mới quan trọng là thực hiện cơ chế chia sẻ rủi ro thực chất giữa Nhà nước và doanh nghiệp để khuyến khích sự tham gia của các tập đoàn, tổng công ty lớn, cả Nhà nước và tư nhân, giữ vai trò dẫn dắt trong các ngành biển quan trọng. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được coi là động lực then chốt, đòi hỏi tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khai thác biển sâu hiện đại, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo biển quốc gia gắn với các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học. Việc đẩy mạnh hạ tầng số biển, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám và Internet vạn vật vào quản trị biển, công nghệ quan trắc và dự báo thiên tai sẽ giúp Việt Nam làm chủ khoa học biển thế hệ mới. Nguồn nhân lực biển chất lượng cao phải được phát triển bài bản thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu về đại dương học và quản trị biển hiện đại trong hệ thống giáo dục quốc dân, xây dựng đội ngũ chuyên gia và nhà khoa học có chuyên môn sâu phục vụ phát triển quốc gia biển mạnh.

Trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường biển, việc cơ cấu lại ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững và tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị là yêu cầu cấp thiết. Chúng ta cần đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong nuôi trồng, khai thác và bảo quản thủy sản; hiện đại hóa đội tàu, giảm khai thác ven bờ để bảo vệ nguồn lợi và đẩy mạnh nuôi biển công nghiệp công nghệ cao xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo. Mô hình tàu nuôi trồng và lồng nuôi thông minh tích hợp năng lượng tái tạo và công nghệ số sẽ là hướng đi tất yếu. Các ngành kinh tế biển khác như dầu khí sẽ chuyển sang công nghệ khai thác tiên tiến gắn với chế biến sâu; kinh tế hàng hải hướng tới trở thành cường quốc với hệ thống cảng biển xanh, hiện đại và đội tàu vận tải mạnh, kết nối đồng bộ với dịch vụ logistics biển hiện đại. Du lịch biển sẽ phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn với sản phẩm chất lượng cao, có thương hiệu và mang đậm bản sắc văn hoá Việt Nam, từ du lịch tàu biển, nghỉ dưỡng đến kinh tế đêm và lễ hội biển. Đặc biệt, việc phát triển mạnh năng lượng tái tạo như điện gió ngoài khơi, điện mặt trời trên biển cùng các ngành mới như hiđrôgien xanh, amôniắc xanh, công nghệ sinh học biển và khử mặn nước biển sẽ mở ra không gian phát triển mới đầy tiềm năng.

Nhiệm vụ bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển phải được ưu tiên hàng đầu, gắn với cải thiện sinh kế bền vững cho người dân và phát triển kinh tế biển xanh. Việc mở rộng hệ thống khu bảo tồn biển, phục hồi rạn san hô, rừng ngập mặn và khai thác giá trị của các bể hấp thụ cácbon xanh là những hành động thiết thực để ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Chúng ta cần kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải từ đất liền, đẩy mạnh kinh tế tuần hoàn và giảm thiểu rác thải nhựa đại dương. 

Đặc biệt, việc tập trung tháo gỡ khó khăn trong phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU) là ưu tiên lãnh đạo hàng đầu. Ngoài ra, xây dựng văn hoá biển, tôn tạo các giá trị lịch sử và di sản gắn với việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cư dân vùng biển, hải đảo là nền tảng để phát huy sức mạnh cộng đồng. Ngư dân và cư dân biển phải được coi là chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ hướng biển. Cuối cùng, phát triển quốc gia biển mạnh phải gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh, tăng cường xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trên biển vững chắc. Việt Nam kiên trì giải quyết các vấn đề trên biển bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, thực hiện hiệu quả DOC và hướng tới COC thực chất, hiệu lực để duy trì hoà bình, ổn định và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trong mọi tình huống. Coi hợp tác quốc tế là động lực quan trọng để thu hút nguồn lực, tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quản trị biển tiên tiến cho mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh toàn diện.

Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW thông qua thực thi đồng bộ 9 nhóm nhiệm vụ và giải pháp đột phá, từ đổi mới tư duy quản trị không gian biển đến đẩy mạnh khoa học, công nghệ, phát triển kinh tế xanh và bảo vệ môi trường không chỉ giúp chúng ta khơi thông những nguồn lực tiềm tàng từ đại dương mà còn khẳng định vững chắc vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (2026), Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. 
2. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW. 
3. Nguyễn Thanh Nghị (2026), Báo cáo chuyên đề về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, quán triệt Nghị quyết số 20-NQ/TW.

Thượng tá Vũ Tuấn Anh - Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng