![]()

Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, ngày 29/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, kinh tế biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu xây dựng quốc gia mạnh về biển. Đến năm 2045, Việt Nam phải hướng tới một quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại và công nghệ biển tiên tiến. Theo đó, đây cũng chính là điểm khởi đầu để nhận diện chiều sâu của Nghị quyết số 20-NQ/TW. Biển không chỉ là nơi đánh bắt hải sản, khai thác tài nguyên, xây dựng cảng biển hay phát triển du lịch. Biển là không gian sinh tồn, phát triển và bảo vệ chủ quyền; là nơi kết nối đất liền với hải đảo, các hành lang kinh tế với chuỗi giá trị đại dương, lợi ích trước mắt với trách nhiệm lâu dài đối với các thế hệ mai sau. Từ cách tiếp cận đó, một câu hỏi lớn được đặt ra: Việt Nam sẽ tiếp tục khai thác những gì biển đang có, hay phải kiến tạo năng lực để làm chủ, quản trị và phát triển toàn diện không gian biển quốc gia? Nghị quyết số 20-NQ/TW đã đưa ra câu trả lời rõ ràng.



Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển được nâng lên rõ rệt; thể chế, chính sách, pháp luật về biển tiếp tục được hoàn thiện; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và quản trị biển được tăng cường. Kinh tế biển tiếp tục khẳng định vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế. Hạ tầng, cảng biển, khu kinh tế, khu công nghiệp và đô thị ven biển được quan tâm đầu tư. Điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ biển được chú trọng. Đời sống Nhân dân vùng ven biển, hải đảo được cải thiện. Quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế được củng cố, tăng cường, giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và bảo đảm môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển đất nước.


Tuy nhiên, nhận thức về vị trí, vai trò của biển và yêu cầu phát triển quốc gia biển mạnh có lúc, có nơi chưa đầy đủ. Nghị quyết số 20-NQ/TW thẳng thắn chỉ rõ nhiều hạn chế, quản trị biển chưa theo kịp yêu cầu phát triển; thể chế, chính sách chưa đồng bộ; chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo; quy hoạch không gian biển còn bất cập; cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng chưa hiệu quả. Kinh tế biển phát triển chưa tương xứng với lợi thế, trong khi khoa học, công nghệ, dữ liệu, điều tra cơ bản và nguồn nhân lực biển chưa đáp ứng yêu cầu. Ô nhiễm môi trường, suy giảm nguồn lợi thủy sản, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xói lở bờ biển tiếp tục diễn biến phức tạp.


Đó không chỉ là những hạn chế của từng lĩnh vực riêng biệt. Phía sau là một vấn đề căn bản hơn, đó là: Biển chưa thực sự được nhìn nhận và quản trị như một chỉnh thể thống nhất. Trong một thời gian dài, mỗi ngành thường tiếp cận biển theo phạm vi quản lý của mình. Giao thông quan tâm đến cảng biển và vận tải; thủy sản tập trung vào khai thác, nuôi trồng và chế biến; năng lượng hướng tới dầu khí, điện gió ngoài khơi; du lịch khai thác bờ biển, đảo và cảnh quan; lĩnh vực môi trường bảo vệ hệ sinh thái, kiểm soát nguồn thải.




Tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt vấn đề quản trị biển trong yêu cầu quản trị thống nhất lãnh thổ. Theo đó, biển phải được kết nối với đất liền, cảng biển, logistics, các hành lang kinh tế và hợp tác quốc tế, thay vì tiếp tục được nhìn như những khoảng không gian riêng rẽ. Đây chính là bước chuyển từ “có biển” sang “làm chủ không gian biển”; từ sử dụng tài nguyên sẵn có sang tổ chức, phân bổ và kiến tạo nguồn lực phát triển kinh tế biển trong giai đoạn phát triển mới.


Quan điểm xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về phát triển kinh tế biển là chiến lược phát triển đất nước lâu dài, gắn chặt với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới; mọi quy hoạch, chiến lược, chương trình phát triển đất nước đều phải phục vụ yêu cầu bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo; nâng cao năng lực phòng thủ và bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Việt Nam phải có nền quản trị biển hiện đại; kinh tế biển phát triển hiệu quả; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển kinh tế biển tiên tiến; môi trường biển bền vững; văn hoá biển giàu bản sắc; cộng đồng cư dân ven biển, trên đảo giàu mạnh; quốc phòng, an ninh biển đảo được giữ vững, hội nhập quốc tế thực chất, hiệu quả; vị thế, uy tín quốc tế ngày càng cao.
Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương đã mở ra một tầm nhìn mới về phát triển đất nước từ biển. Tuy nhiên, tư duy chỉ thực sự tạo nên sức mạnh khi được cụ thể hóa bằng thể chế, chính sách và những chương trình hành động thiết thực. Từ quy hoạch không gian biển, điều tra cơ bản, quản trị tài nguyên đến phát triển kinh tế biển xanh, bảo vệ môi trường, phục hồi hệ sinh thái và nâng cao sinh kế cho cộng đồng ven biển, mỗi nhiệm vụ đều đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, trong đó ngành Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò nòng cốt. Chính những chuyển động từ thực tiễn sẽ là thước đo rõ nhất cho quyết tâm hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.



Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh, phát triển kinh tế biển, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị biển quốc gia. Đây vừa là giải pháp vừa là nhiệm vụ chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại về phát triển kinh tế biển; xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển lâu dài. Chuyển mạnh từ tư duy khai thác tài nguyên và phát triển kinh tế biển đơn thuần sang tư duy phát triển toàn diện không gian biển quốc gia. Khẳng định biển là không gian phát triển chiến lược, động lực tăng trưởng mới, nơi hội tụ các lợi ích phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học, công nghệ, đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Hai là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển kinh tế biển. Đây vừa là giải pháp vừa là yêu cầu đòi hỏi chuyển mạnh từ quản lý theo ngành sang mô hình quản trị hiện đại, tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia trên cơ sở dữ liệu số và quy hoạch không gian biển. Quản trị đồng bộ vùng biển, đáy biển, lòng đất dưới biển, đảo, vùng ven biển và vùng trời trên biển; bảo đảm liên kết, điều phối hiệu quả giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương; hài hoà quan hệ giữa phát triển và bảo tồn, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích địa phương, giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, quản trị rủi ro và hoạch định chính sách; mở rộng không gian phát triển quốc gia ra biển xa, biển sâu và các không gian biển mới; chủ động tham gia và nâng cao vai trò trong các cơ chế hợp tác, quản trị biển, đại dương trong khu vực và toàn cầu. Khẩn trương kiện toàn, đổi mới toàn diện cơ chế điều phối liên ngành về biển và đại dương thống nhất, tập trung, đồng bộ, hiệu quả giữa các ngành, lĩnh vực, địa phương.


Chính phủ thống nhất quản lý, giao một cơ quan chủ trì điều phối các hoạt động trên biển, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan. Phát huy vai trò, tính chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng và thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về biển; phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Ba là, hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh. Đổi mới quản trị không gian biển quốc gia là nội dung cốt lõi, mang tính đột phá trong hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh. Khẩn trương rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực liên quan, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, minh bạch, ổn định, khả thi và có sức cạnh tranh quốc tế; tháo gỡ các điểm nghẽn, chồng chéo, mâu thuẫn; giải phóng và huy động hiệu quả mọi nguồn lực, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế; chủ động nhận diện, dự báo và đón đầu các xu hướng phát triển, các lĩnh vực biển mới. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về biển, gắn trách nhiệm của cơ quan thực thi với kết quả thực hiện.
Hoàn thiện pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, xác lập nguyên tắc quản trị không gian biển theo hướng hiện đại, tổng hợp, thống nhất, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững biển, đại dương. Hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đấu giá, đăng ký, cấp giấy chứng nhận sử dụng, khai thác không gian biển; quy định rõ quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động trên không gian biển, trong đó có quyền chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn, cho thuê lại; khai thác bền vững gắn với bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái, đa dạng sinh học biển. Hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội để phát triển hạ tầng và các ngành, lĩnh vực biển mới, trọng điểm, có tính dẫn dắt, lan toả. Tăng cường kiểm tra, giám sát, phòng ngừa, ứng phó rủi ro và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tác động tiêu cực, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường biển.


Hoàn thiện điều chỉnh Quy hoạch không gian biển quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, kết nối giữa không gian đất liền, biển, vùng trời và các không gian phát triển mới; định hướng không gian phát triển đa tầng, đa ngành cho các vùng trọng điểm, các ngành, lĩnh vực biển. Hoàn thiện quy định, hướng dẫn kỹ thuật về phân vùng chức năng, sử dụng không gian biển, bảo đảm quy hoạch không gian biển quốc gia là công cụ quản lý tổng hợp và điều phối phát triển không gian biển quốc gia, có tính ràng buộc đối với toàn bộ hệ thống quy hoạch ngành, vùng và địa phương ven biển; là căn cứ để phân bổ nguồn lực, giao, cho thuê không gian biển; kiểm soát, xử lý xung đột, tránh chồng lấn, thiếu phối hợp trong sử dụng không gian biển. Hoạt động lấn biển được thực hiện trên cơ sở quy hoạch, bảo đảm hài hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển, ứng phó với biến đổi khí hậu. Chú trọng quy hoạch đồng bộ, hiện đại các đảo và vùng ven biển, bảo đảm phát triển bền vững, gắn với quốc phòng, an ninh và ứng phó với biến đổi khí hậu. Xây dựng và thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển kinh tế kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển cho các đặc khu, đảo tiền tiêu. Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá, đo lường các chỉ tiêu, mục tiêu về xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh.
Bốn là, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn. Hoàn thiện cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển quốc gia biển mạnh; đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, thúc đẩy tài chính xanh; ưu tiên nguồn lực cho các lĩnh vực, địa bàn và dự án trọng điểm có sức lan toả lớn; phát huy hiệu quả các nguồn lực, tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, tín dụng, tài nguyên, không gian biển và các nguồn lực khác. Ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển các khu kinh tế quốc phòng trên biển và ven biển. Huy động nguồn lực cho nghiên cứu phát triển và thúc đẩy tiếp nhận, làm chủ và chuyển giao công nghệ trong các ngành công nghiệp quốc phòng, an ninh phục vụ bảo vệ chủ quyền gắn với phát triển kinh tế biển. Thực hiện cơ chế chia sẻ rủi ro thực chất giữa Nhà nước và doanh nghiệp.
Phát triển mạnh các doanh nghiệp biển giữ vai trò dẫn dắt; khuyến khích thu hút kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, hình thành các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế trong các ngành, lĩnh vực biển quan trọng. Có cơ chế Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm về nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, tìm kiếm, thăm dò tài nguyên, khoáng sản biển và phát triển các ngành, lĩnh vực biển mới. Thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn đa quốc gia, tham gia sâu vào chuỗi giá trị đại dương toàn cầu.
Năm là, đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, thông minh và các ngành, lĩnh vực biển mới. Trước hết, tập trung đầu tư:
Phát triển hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại. Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số toàn diện các ngành, lĩnh vực biển; ưu tiên phát triển các mô hình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ biển thông minh, phát thải thấp, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên và năng lượng. Hình thành các không gian phát triển đa mục tiêu, hạ tầng dùng chung, gắn với các chiến lược về quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển các tổ hợp công nghiệp quốc phòng, an ninh lưỡng dụng.
Phát triển ngành dầu khí và khai thác tài nguyên khoáng sản biển theo hướng hiệu quả, bền vững. Đẩy mạnh điều tra cơ bản, thăm dò, khai thác bằng công nghệ tiên tiến; ưu tiên tài nguyên có giá trị cao, phát triển đồng bộ chuỗi từ khai thác đến chế biến sâu. Phát triển công nghiệp dịch vụ kỹ thuật dầu khí và công trình biển theo hướng hiện đại; nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo, thi công các công trình ngoài khơi, làm chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù đối với các dự án vùng nước sâu, xa bờ, điều kiện phức tạp và mỏ cận biên; nâng cao hệ số thu hồi, khai thác tận thu. Đa dạng hoá nguồn cung, tăng cường dự trữ chiến lược, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và nâng cao năng lực quản trị rủi ro.
Phát triển kinh tế hàng hải trở thành trụ cột quan trọng của kinh tế biển, tạo tiền đề để Việt Nam vươn lên trở thành cường quốc hàng hải. Hoàn chỉnh chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hoàn thiện hệ thống cảng biển theo hướng xanh, thông minh, hiện đại, phát triển và khai thác hiệu quả các cảng cửa ngõ và trung tâm trung chuyển quốc tế, công trình lưỡng dụng dùng chung, gắn kết đồng bộ với hệ thống hạ tầng. Đầu tư hạ tầng điện ven biển, tiếp nhận nhiên liệu sạch. Phát triển đội tàu vận tải biển hiện đại, tăng nhanh thị phần vận chuyển quốc tế. Đẩy mạnh phát triển dịch vụ logistics hàng hải, kết nối đồng bộ, hiệu quả với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa và hàng không. Phát triển công nghiệp đóng tàu theo tư duy hệ sinh thái, đồng bộ với đội tàu biển, phương tiện thuỷ nội địa, hệ thống cảng, logistics, công nghiệp phụ trợ và dịch vụ, theo hướng thân thiện môi trường, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các loại tàu biển, phương tiện và thiết bị phục vụ khai thác biển, phát triển năng lượng ngoài khơi.


Cơ cấu lại ngành Thuỷ sản theo hướng hiện đại, bền vững, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với các vùng sinh thái, tích hợp đa giá trị. Tăng cường bảo tồn, phát triển nguồn gen, tự chủ sản xuất giống thuỷ sản; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong nuôi trồng, khai thác, bảo quản và chế biến thuỷ sản. Cơ cấu lại, hiện đại hoá đội tàu, giảm khai thác ven bờ, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản; đẩy mạnh khai thác xa bờ và nuôi biển công nghiệp công nghệ cao, gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Thiết kế: Chu Hồng Châu