Sáng 16/9, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức họp báo thường kỳ dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp. Từ kết quả tăng trưởng, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đến nguy cơ thiếu nước trong mùa khô năm 2027, những thay đổi của các thị trường nhập khẩu và công tác chuẩn bị cho GREEN EXPO 2027,... thông điệp xuyên suốt được đặt ra là phải chủ động từ sớm, bám sát từng thị trường, từng lưu vực sông và từng nhiệm vụ cụ thể.
Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết, cuộc họp báo tập trung cung cấp thông tin về bốn nhóm nội dung lớn trong công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ: tình hình thực hiện các chỉ tiêu phát triển ngành trong 08 tháng năm 2026 và nhiệm vụ của những tháng cuối năm; an ninh nguồn nước trước nguy cơ hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn; công tác chuẩn bị tham gia Triển lãm Xanh thế giới 2027 tại Nhật Bản; cập nhật các biện pháp an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh của những thị trường xuất khẩu quan trọng.
Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, sau 08 tháng, nhiều lĩnh vực của ngành ghi nhận kết quả tích cực, trong đó nông nghiệp tiếp tục là một điểm sáng. Tuy nhiên, quỹ thời gian còn lại của năm không dài, trong khi yêu cầu về tăng trưởng, xuất khẩu, phòng chống thiên tai, bảo đảm nguồn nước và thích ứng với các hàng rào kỹ thuật ngày càng cao. Vì vậy, nhiệm vụ của các đơn vị không chỉ là giữ nhịp sản xuất mà phải kịp thời nhận diện rủi ro, chuẩn bị phương án điều hành và chuyển thông tin chính sách đến người dân, doanh nghiệp.
Thứ trưởng cũng đề cập việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản. Đây là một nhiệm vụ mới nhưng có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng quản trị chuỗi cung ứng và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế. Báo chí được đề nghị tăng cường thông tin để người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp hiểu, tham gia và sử dụng hệ thống hiệu quả.
Cập nhật bức tranh tăng trưởng của ngành sau 08 tháng, ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính cho biết, năm 2026 dự kiến đạt và vượt hầu hết chỉ tiêu chủ yếu. Hai chỉ tiêu được theo dõi chặt nhất là tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cùng kim ngạch xuất khẩu.
Trong quý II, tốc độ tăng trưởng nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 4,06%, cao hơn chỉ tiêu 3,8%; tính chung sáu tháng đầu năm đạt 3,87%, vượt mục tiêu 3,7%. Giá trị tăng thêm sáu tháng của nông nghiệp tăng 3,57%, trong đó giá trị sản xuất trồng trọt tăng 2,70%, chăn nuôi tăng 4,75%; lâm nghiệp tăng 3,98% và thủy sản tăng 4,88%.
Bức tranh sản xuất tám tháng cho thấy nguồn cung lương thực, thực phẩm trong nước và hàng hóa phục vụ xuất khẩu cơ bản được bảo đảm. Diện tích gieo cấy lúa hè thu ước đạt 1,87 triệu ha, giảm 1,5%; sản lượng đã thu hoạch đạt 4,23 triệu tấn, giảm 22,1%. Diện tích lúa mùa ước đạt 1,31 triệu ha, giảm 3,7%; lúa thu đông đạt khoảng 292.300 ha, giảm 35,8%.
Ở lĩnh vực chăn nuôi, tổng đàn lợn tăng 4,2%, đàn gia cầm tăng 2,8%, trong khi đàn trâu giảm 6,2% và đàn bò giảm 2,1%. Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 181.900 ha, giảm 1,2%, nhưng sản lượng gỗ khai thác tăng 6,5%, đạt 16,66 triệu m3. Sản lượng thủy sản đạt 6,95 triệu tấn, tăng 3,8%; trong đó nuôi trồng đạt 4,25 triệu tấn, tăng 6%, khai thác đạt 2,7 triệu tấn, tăng 0,7%.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tám tháng đạt 49,3 tỷ USD, tăng 7%. Trong cơ cấu xuất khẩu, nông sản đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%; lâm sản đạt 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%; thủy sản đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%; sản phẩm chăn nuôi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%; đầu vào sản xuất đạt 2,61 tỷ USD, tăng 64,8%; muối đạt 10,4 triệu USD, tăng 44,4%.
Ở chiều ngược lại, nhập khẩu đạt 35,06 tỷ USD, tăng 8,1%, đưa xuất siêu của toàn ngành lên 14,25 tỷ USD. Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất với kim ngạch 11,2 tỷ USD, chiếm 22,7% thị phần và tăng 22,1%. Hoa Kỳ đạt 9,4 tỷ USD, chiếm 19,1%, giảm 0,4%; Nhật Bản đạt 3,3 tỷ USD, chiếm 6,8%, tăng 2%.
Từ kết quả này, ngành đặt mục tiêu hoàn thành hoặc vượt 15/15 chỉ tiêu kế hoạch năm 2026. Để giữ mục tiêu tăng trưởng cả năm của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ở mức 4%, kịch bản điều hành xác định quý III cần tăng khoảng 4,15%, chín tháng tăng 4,05% và quý IV tăng khoảng 4,20%. Trong cơ cấu, nông nghiệp cần đạt khoảng 3,77%, lâm nghiệp 5,23%, thủy sản 5,12%; riêng giá trị sản xuất trồng trọt khoảng 2,93% và chăn nuôi khoảng 5,02%.
Áp lực lớn hơn nằm ở mục tiêu xuất khẩu 74 tỷ USD. Bốn tháng cuối năm phải mang về 24,9 tỷ USD, tương đương bình quân 6,23 tỷ USD mỗi tháng. Theo ông Trần Gia Long, sản xuất vì thế phải bám sát kịch bản đến từng lĩnh vực, từng sản phẩm; đồng thời thường xuyên cập nhật sản lượng, giá trị, thị trường và các yếu tố tác động để điều chỉnh kịp thời.
Cùng với thúc đẩy tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, Bộ xác định phải tháo gỡ rào cản kỹ thuật, đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc; xử lý vướng mắc của các ngành hàng chủ lực; triển khai quyết liệt giải pháp gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU. Toàn ngành cũng phải hoàn thành 51 nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng giao; phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn; tập trung giải quyết những điểm nghẽn về đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước và môi trường đang ảnh hưởng đến đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Trước nguy cơ thiếu hụt nguồn nước trong mùa khô tới, ông Ngô Mạnh Hà - Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước cho biết, Việt Nam có tổng lượng dòng chảy hằng năm khoảng 844 tỷ m³ trên 3.450 sông, suối dài từ 10km trở lên, nhưng nguồn nước phân bố rất không đều theo thời gian và không gian.
Mùa cạn kéo dài từ bảy đến chín tháng nhưng chỉ chiếm khoảng 20-40% lượng dòng chảy năm. Năm trong số 13 lưu vực sông lớn phụ thuộc vào nguồn nước từ ngoài biên giới; riêng lưu vực sông Cửu Long phụ thuộc gần 95%, lưu vực Hồng - Thái Bình gần 40%. Tổng lượng nước từ nước ngoài chảy vào Việt Nam chiếm khoảng 60% lượng nước trung bình hằng năm.
Cả nước hiện có khoảng 6.733 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích trữ khoảng 15,2 tỷ m3 và 705 hồ chứa thủy điện với tổng dung tích khoảng 55 tỷ m3. Tuy nhiên, chỉ 137 hồ chứa lớn đang vận hành theo quy trình liên hồ trên 11 lưu vực sông. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nước của các ngành đã ở mức khoảng 117 tỷ m3 mỗi năm; nông nghiệp chiếm 86%, công nghiệp và dịch vụ 8%, sinh hoạt 6%.
Từ tháng 5/2026, nguồn nước trên đa số sông, suối bắt đầu chịu ảnh hưởng của El Niño và có xu hướng thấp hơn trung bình nhiều năm. Giai đoạn tháng 6-8/2026, dòng chảy trên hầu hết sông, suối thuộc 12 lưu vực lớn thấp hơn từ 10-75% so với trung bình nhiều năm, ngoại trừ lưu vực sông Hồng và dòng chính sông Mã. Dự báo lượng mưa có thể thiếu hụt 10-40%, trong khi xâm nhập mặn có khả năng xuất hiện sớm và lấn sâu.
Kịch bản được cơ quan quản lý tài nguyên nước đưa ra cho thấy nguy cơ tích nước không đủ tại các hồ chứa là đáng lưu ý. Theo số liệu của 43 hồ thủy điện được đánh giá, 32 hồ, tương đương khoảng 74%, có thể thiếu từ 15-80% dung tích so với thiết kế; tổng lượng thiếu hụt ước từ 7,73 đến 11 tỷ m3. Đối với 189 hồ thủy lợi được đánh giá, 65% có nguy cơ không tích đủ nước theo thiết kế; 75 hồ, chiếm khoảng 40%, có mức thiếu hụt từ 20-87%, tập trung tại Tây Nguyên và ven biển Nam Trung Bộ.
Nếu mùa mưa kết thúc sớm, dòng chảy mùa cạn trên các sông chính có thể thiếu hụt từ 15-78% so với trung bình nhiều năm. Miền Trung, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ là những khu vực có mức thiếu hụt cao; riêng sông Kôn, sông Ba và thượng lưu sông Đồng Nai có thể thiếu trên 60%.
Nguy cơ không chỉ dừng ở nước sinh hoạt. Tại nhóm lưu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, thiếu nước có thể ảnh hưởng tới khoảng 29 triệu người và khoảng 800.000 ha sản xuất nông nghiệp. Nhóm lưu vực Duyên hải Nam Trung Bộ dễ tổn thương do sông ngắn, dốc, khả năng trữ và điều tiết hạn chế. Tây Nguyên đối mặt rủi ro lớn đối với cây công nghiệp, cây lâu năm ngoài phạm vi cấp nước của công trình thủy lợi. Lưu vực Đồng Nai có chỉ số căng thẳng nguồn nước mùa cạn cao nhất cả nước, còn Đồng bằng sông Cửu Long đặc biệt nhạy cảm do phụ thuộc gần 95% vào nguồn nước thượng lưu sông Mê Kông.
Thông điệp ông Ngô Mạnh Hà nhấn mạnh là phải chuyển từ ứng phó khi thiếu nước sang chủ động điều hòa, phân phối theo lưu vực. Trước mắt, các địa phương cần theo dõi chặt dự báo khí tượng thủy văn, xây dựng kế hoạch sử dụng nước, vận hành linh hoạt hồ thủy lợi và thủy điện để vừa bảo đảm an toàn hạ du, vừa tận dụng tích nước trong mùa lũ cho mùa khô năm 2027, trong đó ưu tiên cao nhất cho nước sinh hoạt.
Cơ quan quản lý sẽ xây dựng kịch bản nguồn nước trên 13 lưu vực sông, làm căn cứ nhận diện khu vực thiếu nước hoặc thiếu nước nghiêm trọng và lập phương án điều hòa, phân phối. Cùng với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ ở vùng có nguy cơ cao, các địa phương cần rà soát kế hoạch cấp nước an toàn, chuẩn bị nguồn nước dưới đất làm dự phòng, kiểm tra các giếng khoan tại vùng núi cao, vùng khan hiếm nước và Đồng bằng sông Cửu Long.
Thông tin về công tác chuẩn bị tham gia Triển lãm Xanh thế giới 2027 – GREEN EXPO 2027 tại Yokohama, Nhật Bản, ông Hoàng Văn Dự, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp, cho biết Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện các nội dung, chương trình và không gian trưng bày, hướng tới quảng bá hình ảnh một quốc gia phát triển xanh, chủ động hội nhập và có trách nhiệm với các vấn đề môi trường toàn cầu.
Sự kiện diễn ra trong 190 ngày, từ 19/3 đến 26/9/2027, trên khu vực khoảng 100 ha. Ban tổ chức Nhật Bản dự kiến đón hơn 10 triệu lượt khách trực tiếp và khoảng 15 triệu lượt tiếp cận nếu tính cả các hình thức tham gia khác. Với chủ đề “Phong cảnh của tương lai vì hạnh phúc”, triển lãm đặt trọng tâm vào mối quan hệ giữa con người, thiên nhiên và phát triển bền vững.
Theo Quyết định số 629/QĐ-TTg ngày 6/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam tham gia với tư cách quốc gia, tổ chức Nhà Triển lãm Việt Nam hoạt động trong suốt sáu tháng. Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chủ trì; Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp là cơ quan thường trực, đầu mối tham mưu và điều phối.
Nhà Triển lãm Việt Nam được định hướng theo mô hình Vườn quốc tế, tổ chức tinh gọn, hiện đại, linh hoạt và tăng tính trải nghiệm số. Không gian trưng bày sẽ kể câu chuyện về hành trình phát triển xanh của Việt Nam với hai trụ cột nông nghiệp và môi trường; giới thiệu nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp thông minh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, đa dạng sinh học, khoa học công nghệ, sản phẩm chủ lực, OCOP và làng nghề gắn với sinh kế xanh.
Bên cạnh không gian vật lý, Việt Nam dự kiến xây dựng Nhà Triển lãm ảo 3D, mở rộng khả năng giới thiệu doanh nghiệp, địa phương, sản phẩm và công nghệ. Trong 190 ngày, các tuần lễ địa phương, hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối doanh nghiệp, hội thảo, giao lưu văn hóa và trải nghiệm sản phẩm sẽ được tổ chức luân phiên. Ngày Quốc gia Việt Nam dự kiến diễn ra vào 1/6/2027.
Nếu GREEN EXPO 2027 mở ra một không gian quảng bá và hợp tác mới, chuyên đề cuối cùng do ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, trình bày lại cho thấy điều kiện để hàng hóa đi xa ngày càng chặt chẽ. Từ ngày 1/1 đến 10/9/2026, EU, Trung Quốc và khu vực Trung Đông - châu Phi đã thông báo tổng cộng 249 biện pháp SPS, gồm 150 dự thảo và 99 biện pháp đã có hiệu lực.
EU có 88 thông báo, gồm 27 dự thảo và 61 biện pháp có hiệu lực. Đáng chú ý, EU dự kiến điều chỉnh mức dư lượng tối đa đối với nhiều hoạt chất. Với profenofos và fenpropathrin, mức dự kiến áp dụng cho một số nông sản chỉ khoảng 0,01-0,05 mg/kg, thấp hơn đáng kể so với mức đang được quy định cho một số sản phẩm tại Việt Nam. EU cũng tiếp tục duy trì tần suất kiểm tra 20% đối với sầu riêng tươi hoặc ướp lạnh, 50% đối với đậu bắp và ớt không ngọt, 30% đối với thanh long.
Trung Quốc có 34 thông báo, gồm 31 dự thảo và ba biện pháp có hiệu lực. Nghị định số 280 về quản lý đăng ký doanh nghiệp sản xuất thực phẩm nước ngoài nhập khẩu đã có hiệu lực từ ngày 1/6/2026, áp dụng phương thức quản lý dựa trên rủi ro. Quy định xác định 17 nhóm thực phẩm phải đăng ký theo khuyến nghị chính thức, đồng thời mở rộng quản lý đối với cơ sở lưu trữ ở nước ngoài và tăng yêu cầu khai báo mã số đăng ký, mục đích sử dụng.
Thị trường Trung Đông - châu Phi có 127 thông báo, gồm 92 dự thảo và 35 biện pháp có hiệu lực. Các quy định trải rộng từ tiêu chuẩn gạo, gia vị, thảo mộc sấy khô, đồ uống ngũ cốc, chuối tươi đến vật liệu tiếp xúc thực phẩm và chỉ tiêu vi sinh. Điểm chung là yêu cầu ngày càng cụ thể về dư lượng, vi sinh, nhãn hàng hóa, chứng nhận Halal, truy xuất nguồn gốc và điều kiện vệ sinh của cơ sở sản xuất.
Từ những thay đổi này, Văn phòng SPS Việt Nam đề nghị cơ quan quản lý tăng cường cảnh báo sớm, chuyển quy định của từng thị trường thành hướng dẫn theo sản phẩm và giám sát mối nguy ngay từ vùng sản xuất. Hiệp hội ngành hàng cần chuyển nhanh thông tin đến doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất. Doanh nghiệp phải kiểm soát vật tư đầu vào, ghi đầy đủ nhật ký sản xuất, bảo đảm truy xuất nguồn gốc và chủ động kiểm nghiệm các chỉ tiêu có nguy cơ cao trước khi xuất khẩu.
Truy xuất nguồn gốc chuyển từ xây dựng sang vận hành
Sau những cảnh báo về các hàng rào SPS ngày càng chặt chẽ, truy xuất nguồn gốc được xác định là một trong những công cụ quan trọng để minh bạch thông tin sản phẩm, kiểm soát chất lượng và nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Thông tin tại họp báo, ông Nguyễn Quang Tin, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ cho biết, ngày 30/6/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã công bố và đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc vào hoạt động. Đến nay, hệ thống đã kết nối với 10 doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ, 4 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông sản và 5 tỉnh, thành phố.
Kể từ khi được công bố, hệ thống đã ghi nhận hơn 309.000 sản phẩm của 211 nông hộ và 25 doanh nghiệp tại 17 tỉnh, thành phố đăng ký truy xuất nguồn gốc. Trong số này, 428 sản phẩm của 32 nông hộ và 11 doanh nghiệp tại 9 tỉnh, thành phố đã thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông sản.
Tính lũy kế từ tháng 1/2026, thời điểm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 25 về xây dựng Hệ thống truy xuất nguồn gốc, đến nay đã có khoảng 814.000 sản phẩm của 3.000 nông hộ và 207 doanh nghiệp tại 24/34 tỉnh, thành phố đăng ký truy xuất nguồn gốc với Bộ. Trong đó, 158.000 sản phẩm của 48 nông hộ và 20 doanh nghiệp tại 14 tỉnh, thành phố đã thực hiện truy xuất nguồn gốc.
Theo ông Nguyễn Quang Tin, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tiếp tục chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện các tiêu chuẩn kết nối, mở rộng phạm vi ứng dụng; đồng thời phối hợp với địa phương và doanh nghiệp để kết nối nguồn dữ liệu hiện có vào hệ thống của Bộ.
Về hạ tầng kỹ thuật, Bộ đã bố trí 40 máy chủ phục vụ triển khai, thử nghiệm hệ thống trước khi công bố. Hai nền tảng đã được xây dựng, gồm Hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và nền tảng phục vụ người dân, doanh nghiệp đăng ký, tra cứu thông tin, truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Các nền tảng đã được đánh giá về an toàn thông tin, đáp ứng yêu cầu trước khi đưa vào sử dụng.
Cùng với đó, Bộ đang tiếp tục phát triển ứng dụng trên điện thoại thông minh, phục vụ việc tra cứu, sử dụng hệ thống và hướng tới cho phép người dùng nhập dữ liệu trực tiếp trên thiết bị di động.
Đối với quy trình kết nối, Cục Chuyển đổi số đã xây dựng và công bố phiên bản 1.0 vào ngày 20/6/2026. Các phiên bản tiếp theo đang được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu kết nối đa dạng của địa phương và doanh nghiệp, từng bước hình thành hệ thống truy xuất nguồn gốc thống nhất, liên thông và thuận tiện trong thực tế.
Tại phần trao đổi, đại diện nhiều cơ quan báo chí đã đặt câu hỏi về những vấn đề đang được dư luận quan tâm như phòng, chống thiên tai và sạt lở; ô nhiễm không khí; phục hồi hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải; xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và giấy chứng nhận điện tử; quản lý giống thủy sản; kiểm soát an toàn thực phẩm; tháo gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU và các rào cản đối với nông sản xuất khẩu.
Đại diện các đơn vị chuyên môn thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã trực tiếp trao đổi, làm rõ tiến độ thực hiện, những khó khăn đang đặt ra và các giải pháp trong thời gian tới. Những nội dung báo chí quan tâm được trả lời thẳng thắn, cụ thể, qua đó kịp thời cung cấp thông tin chính thức để các cơ quan báo chí phản ánh đầy đủ, chính xác tới bạn đọc và dư luận xã hội.
Kết luận cuộc họp báo, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp ghi nhận sự quan tâm, đồng hành của các cơ quan báo chí không chỉ đối với những nội dung được cung cấp tại họp báo mà còn với nhiều lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Chia sẻ thêm về công tác bảo vệ môi trường và phục hồi nguồn nước, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tập trung triển khai các giải pháp khắc phục ô nhiễm hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải. Đây là hệ thống có vai trò quan trọng đối với tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, tiêu thoát nước và đời sống dân sinh. Bộ đã giao các đơn vị chuyên môn nghiên cứu, triển khai đồng bộ các hạng mục công trình, phương án điều tiết nguồn nước và giải pháp kiểm soát ô nhiễm.
Cùng với xử lý nguồn gây ô nhiễm, Bộ đang phối hợp với tỉnh Hưng Yên và các địa phương liên quan trong công tác giải phóng mặt bằng, chỉnh trang hai bờ, xây dựng hệ thống thu gom nước thải, nước mưa và đưa nước thải về các cơ sở xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường. Việc phục hồi Bắc Hưng Hải được xác định là một nhiệm vụ quan trọng; kết quả triển khai sẽ cung cấp thêm kinh nghiệm để tiếp tục xử lý ô nhiễm tại các lưu vực sông khác.
Đối với công tác phòng, chống thiên tai, sạt lở và ứng phó với biến đổi khí hậu, Thứ trưởng cho biết các giải pháp đang được xem xét trong tổng thể từng vùng, không chỉ tập trung tại một địa phương. Bộ tiếp tục triển khai các chương trình, dự án về đê điều, kè chống sạt lở và bảo vệ khu dân cư tại những địa bàn có nguy cơ cao ở miền núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Việc đầu tư phải bám sát đặc điểm thiên tai, mức độ rủi ro và nhu cầu bảo vệ dân cư, hạ tầng của từng khu vực.
Về phân cấp, phân quyền, Bộ đã triển khai cắt giảm 30% thủ tục hành chính, đồng thời ban hành các văn bản hướng dẫn trong những lĩnh vực chuyên ngành, trong đó có chăn nuôi và thú y. Theo Thứ trưởng, phân cấp phải gắn với hướng dẫn, kiểm tra và phối hợp giữa cơ quan trung ương với địa phương, bảo đảm những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết thủ tục được xử lý kịp thời, không làm gián đoạn hoạt động của người dân và doanh nghiệp.
Liên quan đến lĩnh vực đất đai, Bộ đang tiếp tục lấy ý kiến người dân, doanh nghiệp và các đối tượng chịu tác động để hoàn thiện chính sách. Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Đối với những địa phương chưa có đầy đủ dữ liệu hoặc còn khó khăn về kinh phí và nguồn lực thực hiện, Bộ sẽ tiếp tục rà soát, hỗ trợ để đẩy nhanh tiến độ, hướng tới hoàn thành các phần việc còn lại trong năm 2027.
Song song với đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang phối hợp với Bộ Công an trong kết nối, chia sẻ dữ liệu, phục vụ cắt giảm giấy tờ và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Việc hoàn thiện dữ liệu đất đai là điều kiện quan trọng để từng bước đưa các thủ tục lên môi trường điện tử, hướng tới cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Khép lại cuộc họp báo, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp đề nghị các cơ quan báo chí tiếp tục đồng hành, thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời về hoạt động chỉ đạo, điều hành của Bộ; đồng thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc nảy sinh từ thực tiễn để cơ quan quản lý nghiên cứu, xử lý. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và báo chí không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách mà còn tạo đồng thuận xã hội, đưa các chủ trương, giải pháp của ngành Nông nghiệp và Môi trường đi vào cuộc sống.