Từ vùng đất chiêm trũng thường xuyên ngập úng, khó canh tác, một hộ dân ở xã Thạch Bình (Thanh Hóa) đã mạnh dạn chuyển sang nuôi ếch giống kết hợp cá rô phi. Mô hình không chỉ khai thác hiệu quả diện tích mặt nước mà còn mang lại doanh thu hàng trăm triệu đồng mỗi lứa nuôi.
Nhiều năm trước, khu đất của gia đình anh Nguyễn Văn Bình, ở thôn Thạch Sơn, xã Thạch Bình (tỉnh Thanh Hóa), gần như chỉ có thể canh tác cầm chừng do nằm trong vùng chiêm trũng, thường xuyên ngập nước vào mùa mưa. Việc sản xuất lúa và các loại cây trồng khác gặp nhiều khó khăn, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không đáng kể.
Không chấp nhận để đất bỏ hoang hoặc tiếp tục sản xuất kém hiệu quả, năm 2023, sau thời gian tìm hiểu các mô hình chăn nuôi thủy đặc sản, anh Bình quyết định đầu tư khoảng 250 triệu đồng xây dựng hệ thống bể nuôi ếch giống theo hướng bài bản. Đồng thời, anh tận dụng diện tích mặt nước bên dưới để nuôi cá rô phi, hình thành mô hình sản xuất kết hợp.
Theo anh Bình, đây là giải pháp phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương. Hệ thống bể nuôi được bố trí phía trên, thuận tiện cho việc quản lý đàn ếch, còn cá rô phi được nuôi phía dưới nhằm tận dụng lượng thức ăn dư thừa và chất hữu cơ từ quá trình nuôi ếch. Nhờ vậy, môi trường nước được cải thiện, giảm đáng kể chi phí xử lý chất thải, đồng thời tạo thêm nguồn thu từ cá thương phẩm.
Hiện nay, trang trại duy trì khoảng 20 vạn con ếch giống mỗi lứa. Sau khoảng một tháng chăm sóc, ếch đạt tiêu chuẩn xuất bán. Với giá bán khoảng 1.200 đồng/con, mỗi lứa nuôi mang về doanh thu khoảng 300 triệu đồng. Sản phẩm được thương lái đến thu mua trực tiếp tại trang trại và phân phối đến nhiều địa phương như Hải Phòng, Sơn La cùng nhiều tỉnh, thành khác. So với việc trồng lúa trên cùng diện tích, hiệu quả kinh tế của mô hình cao hơn nhiều lần. Chu kỳ nuôi ngắn giúp người nuôi quay vòng vốn nhanh, chủ động kế hoạch sản xuất và giảm thiểu rủi ro do thời tiết.
Không chỉ mang lại thu nhập cho gia đình, mô hình còn tạo việc làm thường xuyên cho một số lao động địa phương với mức thu nhập khoảng 250.000 đồng/người/ngày. Đây là nguồn thu nhập ổn định, góp phần tạo sinh kế ngay tại nông thôn. Theo anh Bình, thành công của mô hình không chỉ đến từ việc lựa chọn đúng đối tượng nuôi mà còn nhờ áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật ngay từ khâu chọn giống, xây dựng chuồng trại đến chăm sóc, quản lý dịch bệnh.
Theo kinh nghiệm của anh Nguyễn Văn Bình, khâu lựa chọn con giống quyết định khoảng một nửa thành công của cả vụ nuôi. Hiện nay, giống ếch Thái Lan được nhiều hộ lựa chọn nhờ khả năng thích nghi tốt, sức đề kháng cao và tốc độ sinh trưởng nhanh.
Thời điểm thích hợp để thả giống là từ tháng 4 đến tháng 9, khi điều kiện thời tiết thuận lợi, nhiệt độ môi trường ổn định giúp ếch phát triển nhanh. Ếch giống nên ở độ tuổi từ 45 đến 60 ngày, có kích cỡ đồng đều khoảng 4–6 cm, da sáng bóng, phản xạ nhanh và không có dấu hiệu dị tật hay bệnh tật.
Đối với các cơ sở chủ động sản xuất giống, giai đoạn ương trứng và nòng nọc đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ các yếu tố môi trường. Nhiệt độ nước thích hợp để trứng nở dao động từ 20–25°C; nếu nhiệt độ vượt quá 35°C, tỷ lệ trứng hỏng sẽ tăng cao. Mực nước trong bể ương cần được nâng dần từ 2–5 cm lên 10–15 cm nhằm tăng lượng oxy hòa tan, tạo điều kiện thuận lợi cho nòng nọc phát triển.
Sau khoảng 2–3 ngày tuổi, nòng nọc bắt đầu ăn phù du, lòng đỏ trứng hoặc thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm trên 40%. Việc cung cấp thức ăn đầy đủ ngay từ giai đoạn đầu giúp nòng nọc phát triển đồng đều, giảm tỷ lệ hao hụt. Tùy điều kiện thực tế, người nuôi có thể lựa chọn nhiều hình thức chuồng trại khác nhau. Với hộ mới bắt đầu, bể lót bạt là phương án phù hợp do chi phí đầu tư không quá lớn, dễ vệ sinh, chủ động thay nước và kiểm soát dịch bệnh. Bể thường có diện tích từ 6–30 m², sử dụng bạt chống thấm để giữ nước.
Trong khi đó, các hộ có diện tích ao hồ có thể lựa chọn nuôi trong lồng lưới. Hình thức này tận dụng tốt mặt nước sẵn có, đồng thời có thể kết hợp nuôi cá rô phi hoặc cá tra bên dưới để tận dụng thức ăn dư thừa, góp phần giảm ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả sử dụng diện tích. Dù áp dụng mô hình nào, chuồng nuôi cũng cần bố trí nơi yên tĩnh, có mái che để hạn chế ánh nắng trực tiếp và giữ nhiệt độ ổn định trong khoảng 25–30°C. Đây là ngưỡng nhiệt độ thích hợp giúp ếch sinh trưởng nhanh và hạn chế stress.
Thức ăn là yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng của đàn ếch. Theo khuyến cáo, người nuôi nên sử dụng cám viên nổi với hàm lượng đạm phù hợp từng giai đoạn phát triển. Đối với ếch nhỏ, thức ăn nên chứa 35–40% protein để hình thành khung xương và cơ bắp. Khi ếch trưởng thành, có thể giảm xuống còn 25–30% nhằm tiết kiệm chi phí nhưng vẫn bảo đảm tốc độ tăng trọng.
Ngoài thức ăn công nghiệp, có thể bổ sung giun quế, cá tạp, sâu canxi hoặc ốc bươu vàng đã xay nhỏ nhằm tăng nguồn dinh dưỡng tự nhiên. Ếch thường ăn mạnh vào chiều tối và ban đêm, lượng thức ăn mỗi ngày dao động từ 3–10% trọng lượng cơ thể tùy từng giai đoạn phát triển. Người nuôi cũng cần thường xuyên phân loại đàn để tránh tình trạng con lớn tranh ăn, làm giảm tốc độ sinh trưởng của những con nhỏ.
Một trong những yếu tố quyết định thành công của nghề nuôi ếch là quản lý môi trường nước. Theo anh Bình, nước trong bể cần được thay từ một đến hai lần mỗi ngày sau khi cho ăn nhằm loại bỏ thức ăn dư thừa và chất thải. Các chỉ tiêu môi trường như pH nên duy trì trong khoảng 6,5–8,5; độ mặn không quá 5‰; nhiệt độ nước khoảng 28–30°C.
Vào mùa đông, khi nhiệt độ xuống thấp, cần che chắn chuồng nuôi, sử dụng nhà kính hoặc đèn sưởi để giữ ấm. Nếu nhiệt độ giảm quá thấp, ếch sẽ giảm ăn, chậm lớn và dễ mắc bệnh. Bên cạnh đó, người nuôi phải thường xuyên theo dõi đàn ếch để phát hiện sớm các bệnh thường gặp như mù mắt, đỏ đùi hoặc các bệnh do vi khuẩn gây ra. Việc vệ sinh chuồng trại, khử trùng định kỳ và kiểm soát nguồn nước được xem là biện pháp hiệu quả nhất để hạn chế dịch bệnh, giảm tỷ lệ hao hụt.
Hiện nay, anh Nguyễn Văn Bình đang tiếp tục thử nghiệm một số dòng ếch giống mới có khả năng kháng bệnh tốt hơn, kỳ vọng nâng cao chất lượng con giống và giảm chi phí sản xuất. Với hiệu quả đã được chứng minh, mô hình nuôi ếch giống kết hợp cá rô phi đã mở ra hướng đi mới cho những vùng đất chiêm trũng, góp phần đa dạng hóa sinh kế, nâng cao giá trị sử dụng đất và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững.