Với đường bờ biển dài hơn 3.260km và vùng biển rộng lớn, Việt Nam đang sở hữu một trong những nguồn tài nguyên gió ngoài khơi lớn nhất thế giới, mở ra cơ hội rất lớn hình thành hệ sinh thái công nghiệp biển mới theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW (ngày 28/7/2026). Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phóng viên (PV) Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS. Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
PV: Thưa TS. Dư Văn Toán, Nghị quyết 20-NQ/TW (ngày 28/7/2026) đã đặt ra một cách tiếp cận mới về xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Theo ông, điểm đáng chú ý nhất của tư duy mới này là gì và điều đó mở ra cơ hội như thế nào cho kinh tế biển Việt Nam?
TS. Dư Văn Toán: Điểm rất đáng chú ý của Nghị quyết số 20-NQ/TW (Nghị quyết 20) là sự chuyển mạnh về tư duy: Từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại; từ phát triển kinh tế ven biển, kinh tế biển theo từng ngành sang phát triển quốc gia biển mạnh; từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia. Đây là một thay đổi có ý nghĩa rất lớn, bởi biển không còn được nhìn đơn thuần như một không gian để khai thác dầu khí, đánh bắt hải sản, vận tải hay du lịch, mà trở thành một không gian phát triển chiến lược, nơi hội tụ các lợi ích về kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học - công nghệ, môi trường, đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, Nghị quyết 20 đánh giá nhận thức về vị trí, vai trò của biển đã được nâng lên rõ rệt; thể chế, chính sách và pháp luật về biển tiếp tục được hoàn thiện; hạ tầng, cảng biển, khu kinh tế, khu công nghiệp và đô thị ven biển được quan tâm đầu tư; khoa học, công nghệ biển được chú trọng. Tuy nhiên, Nghị quyết cũng chỉ rõ những hạn chế như thể chế, chính sách chưa đồng bộ; quản trị biển chưa theo kịp yêu cầu; kinh tế biển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; cơ cấu ngành chuyển dịch còn chậm; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, điều tra cơ bản và phát triển nguồn nhân lực biển chưa đáp ứng yêu cầu.
Theo tôi, chính việc nhận diện rất rõ những điểm nghẽn này giúp Nghị quyết 20 tạo ra một nền tảng mới cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn, hệ thống đảo, quần đảo, cảng biển, luồng hàng hải và nguồn tài nguyên biển phong phú. Nhưng lợi thế tự nhiên chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi chúng ta có thể chế phù hợp, hạ tầng đồng bộ, công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao và những doanh nghiệp đủ năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Nghị quyết 20 vì thế có một điểm rất quan trọng: Coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực phát triển quốc gia biển mạnh; đồng thời đặt yêu cầu phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành, lĩnh vực biển mới. Đây chính là không gian để những lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, amoniac xanh, nuôi biển công nghệ cao, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, điện sóng, điện thủy triều và điện hải lưu phát triển.
Đặc biệt, Nghị quyết 20 đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển các dự án điện gió ngoài khơi có công suất 6-10GW. Đây không chỉ là một mục tiêu về năng lượng. Nếu được triển khai đúng hướng, điện gió ngoài khơi có thể trở thành một trong những ngành công nghiệp nền tảng của kinh tế biển, kéo theo hàng loạt ngành phụ trợ như khảo sát biển, thiết kế, chế tạo thiết bị, đóng tàu chuyên dụng, cảng biển, logistics, xây dựng công trình ngoài khơi, cáp điện, dịch vụ kỹ thuật, bảo dưỡng và đào tạo nhân lực.
Nói cách khác, chúng ta không nên nhìn điện gió ngoài khơi chỉ bằng số MW được lắp đặt hoặc số kWh được phát lên lưới. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng hình thành một hệ sinh thái công nghiệp biển mới.
Hiện nay, kinh tế biển thế giới đang chuyển dịch mạnh theo hướng xanh, số và phát thải thấp. Theo những thông tin tôi đã phân tích, quy mô kinh tế đại dương toàn cầu hiện đã vượt 2.200 tỷ USD và có thể vượt 3.000 tỷ USD vào năm 2030. Dòng vốn cũng đang dịch chuyển từ dầu khí truyền thống sang các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, nuôi biển, cảng xanh, vận tải biển xanh và các ngành năng lượng mới.
Đây là cơ hội rất lớn đối với Việt Nam. Nhưng cơ hội sẽ không tự biến thành lợi thế. Nếu chúng ta chỉ nhập khẩu turbine, xây dựng dự án rồi bán điện, phần giá trị giữ lại trong nước sẽ không lớn. Nếu chúng ta tận dụng được quá trình phát triển điện gió ngoài khơi để hình thành năng lực chế tạo, dịch vụ, logistics, đóng tàu và công nghệ biển thì giá trị gia tăng sẽ lớn hơn rất nhiều.
PV: Nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam có tiềm năng điện gió ngoài khơi rất lớn nhưng đến nay vẫn chưa có MW điện gió ngoài khơi thương mại hòa lưới. Theo ông, đâu là điểm nghẽn lớn nhất và cần làm gì để biến tiềm năng thành một ngành công nghiệp thực sự?
TS. Dư Văn Toán: Tôi cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở tài nguyên gió. Việt Nam có lợi thế rất lớn về điều kiện tự nhiên. Theo các nghiên cứu được công bố, tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi của Việt Nam có thể lên tới hàng trăm GW, thậm chí trên 900 GW nếu xét các khu vực có thể phát triển sau khi loại trừ những vùng hạn chế. Đây là quy mô tài nguyên đủ lớn để hình thành một ngành công nghiệp mới.

Vấn đề là từ tài nguyên đến dự án thương mại là một khoảng cách rất lớn. Một dự án điện gió ngoài khơi có chu kỳ phát triển dài, vốn đầu tư lớn, yêu cầu khảo sát, cấp phép, quy hoạch không gian biển, đấu nối, xây dựng hạ tầng và cơ chế mua bán điện ổn định. Nhà đầu tư không chỉ cần biết dự án có thể xây dựng hay không, mà còn cần biết trong 20-30 năm tới chính sách sẽ vận hành như thế nào, quyền và nghĩa vụ của các bên ra sao, cơ chế giá điện, đấu nối, sử dụng không gian biển và xử lý các vấn đề phát sinh sẽ được quy định thế nào.
Nghị quyết 20 đã đặt đúng vấn đề khi nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, đổi mới quy hoạch không gian biển quốc gia và tháo gỡ các điểm nghẽn để huy động nguồn lực. Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, minh bạch, ổn định, khả thi và có sức cạnh tranh quốc tế; đồng thời hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đấu giá, đăng ký, cấp giấy chứng nhận sử dụng, khai thác không gian biển. Đây là những vấn đề có ý nghĩa trực tiếp với điện gió ngoài khơi.
Một dự án ngoài khơi sử dụng rất nhiều không gian và liên quan tới nhiều ngành. Khu vực đặt turbine có thể liên quan tới hàng hải, thủy sản, quốc phòng, an ninh, bảo tồn thiên nhiên, dầu khí, cáp ngầm và các hoạt động kinh tế khác. Vì vậy, nếu vẫn quản lý theo tư duy ngành dọc, rất dễ xảy ra chồng lấn, kéo dài thủ tục hoặc xung đột lợi ích.
Đây là lý do Nghị quyết 20 nhấn mạnh chuyển sang quản trị không gian biển tổng hợp, thống nhất. Quy hoạch không gian biển phải trở thành công cụ để phân bổ không gian, kiểm soát xung đột và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế biển phát triển đồng bộ. Với điện gió ngoài khơi, đây là điều kiện tiên quyết.
Bên cạnh thể chế, chúng ta cần một cách tiếp cận khác về đầu tư. Không nên coi mỗi dự án điện gió ngoài khơi là một dự án năng lượng riêng lẻ. Cần nhìn nó như một hạt nhân hình thành trung tâm năng lượng và công nghiệp ngoài khơi. Ví dụ, điện tạo ra từ turbine có thể truyền vào bờ để cung cấp cho hệ thống điện quốc gia. Nhưng trong tương lai, một phần điện có thể được sử dụng tại chỗ để điện phân nước sản xuất hydrogen xanh, sau đó chế biến thành amoniac xanh hoặc các nhiên liệu sạch khác. Khi đó, giá trị của dự án không chỉ nằm ở sản lượng điện mà còn nằm ở chuỗi sản phẩm năng lượng mới.
Nghị quyết 20 cũng đã mở không gian cho cách tiếp cận này khi yêu cầu phát triển mạnh năng lượng tái tạo và các ngành, lĩnh vực biển mới, trong đó nêu rõ điện gió ngoài khơi, điện mặt trời trên biển và các loại hình năng lượng khác; đồng thời khuyến khích phát triển nuôi biển công nghệ cao, y - dược biển, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, điện sóng, điện thủy triều, hydrogen và amoniac xanh.
Một lợi thế nữa mà Việt Nam cần tận dụng là nền tảng của ngành dầu khí. Trong nhiều thập niên, ngành dầu khí đã tích lũy được hệ thống cảng dịch vụ, căn cứ hậu cần, đội tàu chuyên dụng, năng lực khảo sát, thi công công trình ngoài khơi và đội ngũ kỹ sư có trình độ cao. Những năng lực này có thể được chuyển đổi, mở rộng sang phục vụ điện gió ngoài khơi. Đây chính là tư duy kinh tế tuần hoàn về năng lực công nghiệp: Không phải bỏ đi những gì đã có để xây dựng một ngành hoàn toàn mới, mà chuyển hóa năng lực cũ thành nền tảng cho ngành mới.
Tôi cũng cho rằng cần phát triển doanh nghiệp biển đủ lớn. Nghị quyết 20 nhấn mạnh phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế; đồng thời khuyến khích thu hút kinh tế tư nhân, hình thành các doanh nghiệp có quy mô lớn trong những ngành, lĩnh vực biển quan trọng.
Nếu không có doanh nghiệp trong nước đủ năng lực làm chủ một phần chuỗi cung ứng, Việt Nam sẽ khó giữ lại giá trị gia tăng. Chúng ta cần từng bước làm chủ khảo sát, thiết kế, chế tạo kết cấu, cáp, dịch vụ cảng, tàu chuyên dụng, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng. Những công đoạn công nghệ cao có thể hợp tác với các tập đoàn quốc tế, nhưng mục tiêu cuối cùng phải là tăng tỷ lệ nội địa hóa và năng lực công nghệ của Việt Nam.
Ngoài ra, phải đặc biệt coi trọng khoa học, dữ liệu và nhân lực. Nghị quyết 20 đặt mục tiêu hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về biển, tăng cường điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học biển và phát triển công nghệ biển. Đối với điện gió ngoài khơi, dữ liệu về gió, địa chất, địa hình đáy biển, sóng, dòng chảy, môi trường và hệ sinh thái là nền tảng để giảm rủi ro đầu tư.
Do đó, tôi cho rằng muốn phát triển nhanh điện gió ngoài khơi thì phải đồng thời phát triển “hạ tầng cứng” và “hạ tầng mềm”: cảng biển, lưới điện, tàu chuyên dụng đi cùng với dữ liệu biển, quy hoạch, thể chế, tiêu chuẩn kỹ thuật, nhân lực và năng lực nghiên cứu.

PV: Vậy trong giai đoạn tới, Việt Nam cần ưu tiên những giải pháp nào để điện gió ngoài khơi thực sự trở thành “bệ phóng” cho mục tiêu quốc gia biển mạnh, thay vì chỉ dừng lại ở các dự án phát điện?
TS. Dư Văn Toán: Theo tôi, cần triển khai đồng thời ít nhất bốn nhóm giải pháp. Thứ nhất là tạo một hành lang thể chế ổn định và có khả năng dự báo dài hạn. Điện gió ngoài khơi có thời gian chuẩn bị và đầu tư rất dài, vì vậy chính sách không thể thay đổi theo từng dự án. Cần xác định rõ cơ chế khảo sát, lựa chọn nhà đầu tư, sử dụng không gian biển, đầu tư hạ tầng, đấu nối, mua bán điện và trách nhiệm môi trường. Đồng thời phải có cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp.
Nghị quyết 20 đã xác định hoàn thiện thể chế và quy hoạch không gian biển là một trong những nhiệm vụ đột phá. Đây phải được xem là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Không có một không gian pháp lý rõ ràng thì dòng vốn tư nhân và quốc tế rất khó đi vào những dự án hàng chục tỷ USD.
Thứ hai là phát triển đồng bộ hạ tầng biển. Nghị quyết đặt mục tiêu hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, phát triển mạng lưới logistics biển hiện đại, kết nối hiệu quả với khu vực và quốc tế; đồng thời hoàn thiện hệ thống cảng biển theo hướng xanh, thông minh, hiện đại. Đây là nền tảng trực tiếp cho điện gió ngoài khơi.
Một trang trại gió biển cần cảng có khả năng tiếp nhận, lưu kho và lắp ráp các cấu kiện lớn; cần tàu chuyên dụng, hệ thống logistics, cơ sở bảo dưỡng, cáp ngầm và hạ tầng truyền tải. Vì vậy, đầu tư điện gió ngoài khơi phải gắn với đầu tư cảng và công nghiệp phụ trợ. Nếu xây turbine nhưng không có hạ tầng phục vụ thì chi phí sẽ tăng cao và tiến độ kéo dài.
Thứ ba là hình thành chuỗi công nghiệp biển xanh. Đây mới là mục tiêu lớn nhất. Tôi cho rằng Việt Nam không nên đặt câu hỏi đơn giản là “chúng ta có bao nhiêu GW điện gió ngoài khơi?”, mà phải hỏi “chúng ta giữ lại được bao nhiêu giá trị trong mỗi GW đó?”.
Một GW điện gió ngoài khơi có thể tạo ra nhu cầu về hàng loạt sản phẩm và dịch vụ. Nếu doanh nghiệp Việt Nam tham gia được vào chế tạo kết cấu, cáp, tàu, cảng, logistics, khảo sát, xây dựng, vận hành và bảo dưỡng, thì một dự án năng lượng sẽ trở thành một hệ sinh thái công nghiệp.
Xa hơn nữa, điện gió ngoài khơi có thể tạo nguồn điện sạch để phát triển hydrogen xanh, amoniac xanh, nhiên liệu tổng hợp và các ngành công nghiệp sử dụng năng lượng sạch. Khi đó, Việt Nam không chỉ xuất khẩu điện hoặc bán điện trong nước mà còn có khả năng tham gia thị trường năng lượng xanh khu vực.
Thứ tư là phải bảo đảm nguyên tắc phát triển xanh và bền vững. Không thể phát triển năng lượng tái tạo mà bỏ qua môi trường biển. Nghị quyết 20 đặt yêu cầu khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Các dự án điện gió ngoài khơi cần được đánh giá đầy đủ tác động tới hệ sinh thái, nghề cá, tuyến hàng hải và các hoạt động khác trên biển. Đồng thời, phải tăng cường quan trắc, dữ liệu môi trường và ứng dụng công nghệ số để quản lý toàn bộ vòng đời dự án.
Tôi cũng muốn nhấn mạnh một khía cạnh khác: Điện gió ngoài khơi có thể góp phần kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển đảo. Tất nhiên, đây phải là sự kết hợp được quy hoạch và quản lý chặt chẽ. Các công trình, hạ tầng, tàu dịch vụ, hệ thống quan trắc và mạng lưới dữ liệu biển khi được tổ chức phù hợp có thể góp phần tăng cường năng lực hiện diện, giám sát và quản trị không gian biển.
Nghị quyết 20 xác định rất rõ: Xây dựng quốc gia biển mạnh phải gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển; bảo đảm an ninh cho người dân và các hoạt động hợp pháp trên biển; đồng thời chủ động hội nhập và hợp tác quốc tế.
Vì vậy, phát triển điện gió ngoài khơi phải gắn liền chặt chẽ với quốc phòng, an ninh hay môi trường. Nếu quy hoạch tốt, đây có thể là một lĩnh vực kết nối cả ba mục tiêu: Phát triển kinh tế, chuyển dịch năng lượng và tăng cường năng lực quản trị biển.
Tôi cho rằng Việt Nam đang đứng trước một “cửa sổ cơ hội” rất đáng chú ý. Thế giới đang chuyển mạnh sang năng lượng sạch, kinh tế xanh và kinh tế đại dương bền vững. Nguồn vốn, công nghệ và thị trường cho điện gió ngoài khơi đang hình thành nhanh. Việt Nam lại có lợi thế tài nguyên, vị trí địa kinh tế và nền tảng công nghiệp ngoài khơi đã được tích lũy.
Nhưng thời cơ không kéo dài mãi. Nếu chậm hoàn thiện thể chế, chậm phát triển hạ tầng và chậm hình thành chuỗi cung ứng, các quốc gia khác trong khu vực sẽ đi trước và chiếm lĩnh thị trường, công nghệ, nhân lực và dòng vốn.
Nghị quyết 20 vì thế không chỉ đặt ra một mục tiêu về phát triển kinh tế biển. Quan trọng hơn, Nghị quyết mở ra một cách nhìn mới: Biển là không gian phát triển chiến lược của quốc gia; kinh tế biển phải hiện đại, xanh, thông minh và có sức cạnh tranh quốc tế; khoa học - công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực phải trở thành động lực; doanh nghiệp phải là lực lượng quan trọng; còn quản trị không gian biển phải được thực hiện theo hướng tổng hợp, thống nhất.
Nếu chúng ta thực hiện được cách tiếp cận đó, điện gió ngoài khơi sẽ không chỉ tạo ra những MW điện sạch. Nó có thể tạo ra cả một ngành công nghiệp biển mới, thúc đẩy cảng biển, logistics, đóng tàu, cơ khí, công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, hydrogen xanh và các ngành kinh tế biển mới.
Khi ấy, ý nghĩa của điện gió ngoài khơi sẽ vượt xa một nguồn năng lượng tái tạo. Nó có thể trở thành một trong những “bệ phóng” để Việt Nam chuyển từ một quốc gia có tiềm năng biển lớn thành một quốc gia thực sự mạnh về biển, giàu từ biển và phát triển bền vững từ biển.
PV: Xin cảm ơn ông!