El Nino đang tạo thêm sức ép lên nguồn nước trong bối cảnh Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào dòng chảy xuyên biên giới và nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng. Diễn biến nguồn nước năm 2026 cho thấy, nguy cơ hạn hán, thiếu nước có thể tiếp tục tác động đến sản xuất, sinh hoạt và năng lượng trong mùa cạn năm 2027. Vì vậy, thay vì chờ đến khi thiếu nước mới ứng phó, yêu cầu cấp thiết là chủ động tích nước, điều hòa và phân phối nguồn nước ngay từ sớm, theo cách tiếp cận quản trị tổng thể từng lưu vực sông.
Việt Nam có khoảng 3.450 sông, suối dài từ 10km trở lên, với tổng lượng dòng chảy khoảng 844 tỷ m³/năm. Tuy nhiên, gần 60% lượng dòng chảy trung bình năm hình thành từ ngoài lãnh thổ.
Sức ép đối với nguồn nước không chỉ đến từ yếu tố bên ngoài mà còn xuất phát từ sự phân bố không đồng đều theo mùa. Khoảng 60-80% dòng chảy năm tập trung trong 3-5 tháng mùa lũ, trong khi mùa cạn kéo dài 7-9 tháng nhưng chỉ chiếm khoảng 20-40%. Tháng kiệt nhất có thể chỉ đạt 1,1-3,4% tổng lượng dòng chảy năm. Vì vậy, khả năng tích trữ, điều tiết và phân phối nước có ý nghĩa quyết định đối với việc bảo đảm nguồn nước trong mùa khô.
Cả nước hiện có khoảng 6.733 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích 15,2 tỷ m³ và 705 hồ thủy điện với tổng dung tích khoảng 55 tỷ m³. Trong đó, 137 hồ chứa lớn vận hành theo quy trình liên hồ trên 11 lưu vực sông, với tổng dung tích khoảng 54,6 tỷ m³, dung tích hữu ích khoảng 37,2 tỷ m³. Đây là nguồn dự trữ quan trọng để điều tiết nước trong mùa cạn.
Tuy nhiên, thực tế từ các đợt El Nino 2015-2016 và 2019-2020 cho thấy, khi dòng chảy mùa lũ suy giảm, hồ chứa có thể không tích đủ nước, kéo theo thiếu hụt trong mùa cạn năm sau. Trong các năm hạn điển hình, 100% hồ thủy điện được thống kê không tích đủ nước, với tổng dung tích thiếu hụt khoảng 7,73-11 tỷ m³; khoảng 74% số hồ thiếu hụt 15-80% so với thiết kế. Đối với hồ thủy lợi, khoảng 65% không tích đủ nước theo thiết kế, trong đó khoảng 40% số hồ thiếu hụt từ 20-87%, tập trung chủ yếu tại Tây Nguyên và ven biển Nam Trung Bộ.
Dòng chảy mùa cạn trên các sông chính trong những năm hạn điển hình có thể giảm 15-78% so với trung bình nhiều năm. Riêng miền Trung, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ có mức thiếu hụt trên 40%, một số sông vượt 60%. Điều này cho thấy, rủi ro không chỉ nằm ở tổng lượng nước mà còn ở khả năng duy trì dòng chảy tại từng thời điểm và từng khu vực.
Theo đánh giá của Cục Quản lý tài nguyên nước, khoảng 800.000ha sản xuất nông nghiệp tại các lưu vực sông Hồng, Mã và Cả có nguy cơ chịu tác động của thiếu nước. Trong đó, sông Hồng khoảng 500.000ha, sông Mã 102.000ha và sông Cả khoảng 213.000ha.
Tại Đồng bằng sông Hồng, nhu cầu nước phục vụ đổ ải vụ Đông Xuân tập trung trong thời gian ngắn. Khi mực nước sông xuống thấp, các trạm bơm sẽ gặp khó khăn trong lấy nước; trong khi xâm nhập mặn ở hạ du có thể ảnh hưởng đến hệ thống thủy lợi tại Hải Phòng, Hưng Yên và Ninh Bình. Với các lưu vực sông Mã và sông Cả, dù hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh và có khả năng tiếp nhận, điều tiết nước từ các hồ chứa thượng lưu, việc sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và điều chỉnh lịch thời vụ vẫn là giải pháp quan trọng khi nguồn nước suy giảm.
Thiếu nước cũng đặt ra rủi ro đối với an ninh năng lượng. Các lưu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có vai trò quan trọng đối với hệ thống năng lượng quốc gia; riêng thủy điện chiếm khoảng 46% công suất phát điện cả nước. Trong đợt hạn 2019-2020, sản lượng điện của hồ Hòa Bình thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 45,2%, Sơn La thấp hơn 45% và Cửa Đạt thấp hơn 45,3%.
Những tác động này cho thấy, điều tiết nguồn nước không thể được xem xét riêng cho từng ngành hay từng công trình. Vận hành hồ chứa phải đồng thời đáp ứng yêu cầu cấp nước hạ du, nước sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, duy trì dòng chảy và phát điện. Đây cũng là lý do quản trị nguồn nước theo lưu vực cần được đặt ở vị trí trung tâm, thay cho cách tiếp cận tối ưu riêng lẻ từng công trình.
Diễn biến năm 2026 đang cho thấy yêu cầu này ngày càng cấp thiết. Từ tháng 5/2026, nguồn nước trên đa số sông, suối bắt đầu chịu ảnh hưởng của El Nino. Trong tháng 6-8/2026, dòng chảy tại nhiều lưu vực thấp hơn trung bình nhiều năm từ 10-75%; một số khu vực ghi nhận mức suy giảm đáng chú ý như sông Ngàn Trươi, sông Bồ, sông Ba, sông Kôn và nhiều sông thuộc lưu vực Đồng Nai.
Theo các kịch bản được Cục Khí tượng Thủy văn nhận định, trong kịch bản rủi ro cao, lượng mưa có thể thiếu hụt 10-20%, dòng chảy giảm 10-20% so với trung bình nhiều năm và xâm nhập mặn có khả năng đến sớm, lấn sâu hơn. Với kịch bản rủi ro rất cao, lượng mưa có thể thiếu hụt 20-40%, dòng chảy giảm tương ứng 20-40%; nhiều lưu vực xuống mức thấp và xâm nhập mặn có thể tương đương các đợt El Niño rất mạnh trước đây.
Trong khi nguồn cung có nguy cơ suy giảm, nhu cầu sử dụng nước tiếp tục ở mức cao, khoảng 117 tỷ m³/năm. Đồng bằng sông Cửu Long chiếm khoảng 54%, Hồng - Thái Bình khoảng 24% và Đồng Nai khoảng 10,6%. Nông nghiệp vẫn là lĩnh vực sử dụng nước lớn nhất, chiếm khoảng 86%; công nghiệp, kinh doanh, dịch vụ khoảng 8% và sinh hoạt khoảng 6%.
Mức độ căng thẳng nguồn nước vì vậy có xu hướng gia tăng rõ rệt trong mùa cạn. Tính trung bình cả năm, chỉ số căng thẳng nguồn nước của 13 lưu vực sông khoảng 10,5%, tương ứng trạng thái bắt đầu căng thẳng. Nhưng vào mùa cạn, chỉ số này tăng lên khoảng 23,9%, tương ứng mức căng thẳng từ trung bình đến cao; riêng lưu vực sông Đồng Nai đã ở mức căng thẳng nghiêm trọng trong mùa cạn.
Cục Quản lý tài nguyên nước đánh giá nguy cơ hạn hán, thiếu nước ảnh hưởng đến an ninh cấp nước sinh hoạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và phát triển kinh tế - xã hội là rất cao. Nếu không chủ động tích nước trong mùa lũ năm 2026, nguy cơ thiếu nước sinh hoạt, sản xuất thiết yếu và suy giảm khả năng phát điện trong mùa cạn năm 2027 là hiện hữu.
Trong bối cảnh đó, ứng phó với thiếu nước không thể chỉ bắt đầu khi hạn hán xảy ra. Trọng tâm phải chuyển sang quản trị rủi ro từ sớm, từ xa, dựa trên theo dõi sát diễn biến khí tượng thủy văn, đánh giá thực tế lượng nước trong các hồ chứa, chủ động tích nước, vận hành linh hoạt hệ thống liên hồ và xây dựng phương án điều hòa, phân phối nước theo từng lưu vực.
Các giải pháp cần được triển khai ngay từ tháng 9/2026 và tiếp tục trong năm 2027. Các địa phương cần chủ động tích nước tại các hồ thủy lợi, thủy điện, ưu tiên cao nhất cho nước sinh hoạt; đồng thời rà soát các hồ vừa và nhỏ để tận dụng tối đa khả năng trữ nước tại chỗ. Cùng với đó là điều chỉnh cơ cấu cây trồng, mùa vụ ở những khu vực có nguy cơ thiếu nước; khai thác hợp lý nước dưới đất làm nguồn dự phòng; kết hợp hoặc luân phiên khai thác nước mặt và nước dưới đất; rà soát các công trình cấp nước có khả năng nâng công suất khi xảy ra hạn hán.
Ở cấp quốc gia, việc sớm công bố Kịch bản nguồn nước trên toàn bộ 13 lưu vực sông lớn sẽ tạo cơ sở để các ngành, địa phương chủ động xây dựng phương án phòng, chống hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn. Đối với những lưu vực được xác định thiếu nước hoặc thiếu nước nghiêm trọng, cần nhanh chóng xây dựng phương án điều hòa, phân phối nguồn nước cụ thể, gắn với trách nhiệm của từng ngành, địa phương và chủ hồ chứa.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là vượt qua một mùa hạn mà phải nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài nguyên nước trước những biến động ngày càng khó lường. Nước sinh hoạt cần được đặt ở vị trí ưu tiên, nhưng việc điều hòa nguồn nước phải được thực hiện trên quy mô toàn lưu vực, hài hòa nhu cầu của nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, hệ sinh thái và năng lượng.
Với nguồn nước đang chịu đồng thời tác động của biến đổi khí hậu, El Niño, phụ thuộc dòng chảy xuyên biên giới và gia tăng nhu cầu sử dụng, chủ động tích nước và điều hòa nguồn nước từ sớm không còn là giải pháp tình thế mà trở thành yêu cầu của quản trị tài nguyên nước hiện đại.