Trong tháng 8/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung hoàn thiện thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn pháp luật, duy trì đà tăng trưởng và mở rộng thị trường cho nông sản. Trước những diễn biến ngày càng cực đoan của thời tiết, Bộ đồng thời yêu cầu nâng cao năng lực dự báo, chủ động phòng ngừa, ứng phó thiên tai từ sớm, từ xa, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của người dân và các công trình hạ tầng thiết yếu.
Một trong những nhiệm vụ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặc biệt chú trọng trong năm 2026 là hoàn thiện hệ thống pháp luật, tháo gỡ những điểm nghẽn đang cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh và khơi thông các nguồn lực cho phát triển.
Theo chương trình công tác năm 2026, Bộ được giao xây dựng 126 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 46 văn bản trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và 80 thông tư thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng. Đến nay, Bộ đã hoàn thành 64 văn bản, đạt 50,8% kế hoạch.
Tuy nhiên, trước yêu cầu đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và kịp thời tháo gỡ những khó khăn phát sinh trong thực tiễn, khối lượng văn bản Bộ phải xây dựng trong năm dự kiến tăng lên 174 văn bản. Trong đó, có 73 văn bản trình cấp có thẩm quyền, bao gồm bốn dự án luật, cùng 101 thông tư. Đến thời điểm báo cáo, 79 trong tổng số 174 văn bản đã được hoàn thành, đạt 45,4%.
Khối lượng công việc lớn, thời gian hoàn thành chủ yếu tập trung vào quý III và quý IV, đặt ra yêu cầu cao về tiến độ nhưng đồng thời phải bảo đảm chất lượng, tính khả thi và sự thống nhất của hệ thống pháp luật. Quan điểm của Bộ là việc sửa đổi chính sách không chỉ nhằm khắc phục những bất cập trước mắt mà phải tạo hành lang pháp lý thông thoáng, giảm chi phí tuân thủ và mở ra dư địa phát triển lâu dài cho người dân, doanh nghiệp.
Trong năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có nhiệm vụ xây dựng 4 dự án luật quan trọng: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); Luật Đất đai (sửa đổi).
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật đã được Chính phủ trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất tổ chức trong tháng 8/2026. Đối với Luật Bảo vệ môi trường, Bộ đang phối hợp với Văn phòng Chính phủ hoàn thiện hồ sơ để trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai, dự kiến diễn ra vào tháng 10/2026.
Chính sách xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đã được Chính phủ thông qua. Trên cơ sở đó, Bộ xây dựng hồ sơ dự thảo, tổ chức lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân và gửi Bộ Tư pháp thẩm định.
Đối với Luật Đất đai (sửa đổi), Bộ đã rà soát, cập nhật chính sách theo quan điểm, mục tiêu và định hướng tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Hồ sơ dự thảo luật đang được lấy ý kiến rộng rãi để trình Quốc hội cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất và xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ hai.
Cùng với việc xây dựng các dự án luật, từ đầu năm đến nay, Bộ đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 40 văn bản, gồm 31 nghị định, 5 nghị quyết của Chính phủ và 4 quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Sáu văn bản khác đang được trình xem xét ban hành. Trong phạm vi thẩm quyền, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành 33 thông tư nhằm quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành pháp luật và phục vụ công tác quản lý nhà nước.
Đáng chú ý, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là một trong số ít ngành không để nợ đọng văn bản quy định chi tiết. Toàn bộ 32 văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 đã được hoàn thành. Đối với các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ nhất, Bộ đã hoàn thành một trong hai văn bản; văn bản còn lại đang được xây dựng, bảo đảm có hiệu lực cùng thời điểm với luật vào ngày 1/10/2026.
Những kết quả này cho thấy, nỗ lực đưa chính sách sớm đi vào cuộc sống, tránh tình trạng luật đã có hiệu lực nhưng thiếu văn bản hướng dẫn. Đây cũng là điều kiện cần thiết để củng cố môi trường đầu tư, tạo sự minh bạch và ổn định cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực nông nghiệp, đất đai, tài nguyên và môi trường.
Song song với việc hoàn thiện thể chế, nhiệm vụ giữ vững đà tăng trưởng tiếp tục được đặt ở vị trí trọng tâm. Trong quý II/2026, toàn ngành tăng trưởng 4,06%, cao hơn mức 3,8% được giao. Tính chung sáu tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng đạt 3,87%, vượt mục tiêu 3,7%.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong 7 tháng đầu năm cơ bản ổn định, tiếp tục bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm trong nước và phục vụ xuất khẩu. Trong chăn nuôi, tổng đàn lợn tăng 2,6%, đàn gia cầm tăng 3,1% so với cùng kỳ. Đàn trâu giảm 6,1%, đàn bò giảm 2,2%. Lâm nghiệp duy trì diện tích rừng trồng mới tập trung ở mức 162.800ha; sản lượng gỗ khai thác đạt 14,18 triệu m³, tăng 6,1%. Sản lượng thủy sản đạt 5,87 triệu tấn, tăng 3,7%; trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 3,58 triệu tấn, tăng 5,8%, còn khai thác đạt 2,29 triệu tấn, tăng 0,7%.
Xuất khẩu tiếp tục là một điểm sáng của ngành. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong 7 tháng đạt 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ. Nhập khẩu đạt 31,13 tỷ USD, tăng 10,8%; toàn ngành xuất siêu 11,67 tỷ USD.
Trong cơ cấu xuất khẩu, nông sản đạt 22,22 tỷ USD, tăng 2,4%; lâm sản đạt 10,96 tỷ USD, tăng 5,8%; thủy sản đạt 6,85 tỷ USD, tăng 12,7%. Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 455 triệu USD, tăng 33,2%; đầu vào sản xuất đạt 2,32 tỷ USD, tăng 71,1%; muối đạt 8,8 triệu USD, tăng 40,2%.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của nông, lâm, thủy sản Việt Nam, chiếm 21,9% thị phần và tăng 24,4%. Hoa Kỳ chiếm 19% nhưng giảm 1,6%; Nhật Bản chiếm 6,8%, tăng 3,9%.
Từ kết quả đạt được, ngành Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu tăng trưởng cả năm ở mức 4% và tổng kim ngạch xuất khẩu trên 74 tỷ USD. Để hoàn thành mục tiêu này, sáu tháng cuối năm toàn ngành phải đạt mức tăng trưởng 4,3% và kim ngạch xuất khẩu khoảng 38,3 tỷ USD.
Đây là nhiệm vụ không dễ dàng trong bối cảnh thị trường thế giới còn tiềm ẩn nhiều biến động, các quốc gia nhập khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, Bộ yêu cầu các đơn vị theo dõi sát tình hình, thường xuyên đối thoại với doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và xử lý dứt điểm những kiến nghị thuộc thẩm quyền.
Các giải pháp nâng cao chất lượng nông sản, đáp ứng yêu cầu về kiểm dịch thực vật, kiểm dịch động vật, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc phải được triển khai đồng bộ. Việc tổ chức vùng nguyên liệu, cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, tháo gỡ “thẻ vàng” IUU cũng cần được đẩy nhanh nhằm giảm thời gian, chi phí tuân thủ và nâng cao uy tín của nông sản Việt Nam.
Bộ đồng thời yêu cầu tiếp tục rà soát, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, nhất là trong các lĩnh vực kiểm dịch, môi trường, xuất nhập khẩu. Mục tiêu là tạo thuận lợi thực chất cho người dân, doanh nghiệp, đúng tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Đối với đầu tư công, tổng số vốn Bộ được giao trong năm 2026 là 9.699 tỷ đồng, gồm 8.556 tỷ đồng vốn trong nước và 1.143 tỷ đồng vốn nước ngoài. Đến hết ngày 31/7, tỷ lệ giải ngân đạt khoảng 30,64% kế hoạch. Bộ yêu cầu xây dựng kịch bản giải ngân chi tiết theo từng tuần, tháng và quý; kịp thời cảnh báo các dự án chậm tiến độ, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch được giao.
Cùng với đó là nhiệm vụ hoàn thành kết nối, đồng bộ các cơ sở dữ liệu với Trung tâm dữ liệu quốc gia; ưu tiên làm sạch, chuẩn hóa, đối soát dữ liệu về đất đai và nông nghiệp. Đối với các cơ sở dữ liệu trọng yếu, kế hoạch đặt ra là hoàn thành đủ 19 tiêu chí trong quý III/2026.
Trong bức tranh chung của ngành, trồng trọt đang thể hiện rõ xu hướng chuyển từ chạy theo sản lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị và hiệu quả. Sáu tháng đầu năm 2026, ngành trồng trọt tăng trưởng bình quân 2,7%, cao hơn chỉ tiêu 2,63% đề ra.
Việc chỉ đạo sản xuất được thực hiện sát với thời vụ và diễn biến thời tiết. Năng suất lúa tiếp tục tăng, sản xuất cơ bản ổn định; công tác dự báo, phòng, chống sinh vật gây hại được tăng cường, không để xảy ra dịch lớn trên diện rộng. Những mô hình quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và nông nghiệp xanh tiếp tục được mở rộng.
Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta lúa chuyên canh chất lượng cao, phát thải thấp bước đầu mang lại kết quả tích cực. Diện tích áp dụng quy trình của Đề án đạt khoảng 379.000ha, vượt mục tiêu của giai đoạn 2024-2025. Việc áp dụng quy trình mới đã góp phần giảm chi phí đầu vào, giảm phát thải và nâng cao lợi nhuận cho người trồng lúa.
Sản lượng nhiều loại cây lâu năm tăng khá. Sầu riêng ước đạt 603.300 tấn, tăng 12,7% so với cùng kỳ; mít đạt 512.000 tấn, tăng 10,3%; dứa đạt 461.600 tấn, tăng 8%; dừa đạt hơn 1,32 triệu tấn, tăng 7,3%. Sản lượng hồ tiêu đạt 267.300 tấn, điều đạt 323.400 tấn, chè búp đạt 566.000 tấn và cao su đạt 439.600 tấn.
Bên cạnh kết quả sản xuất, việc mở rộng thị trường đang tạo thêm dư địa cho nông sản Việt Nam. Trong bảy tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt khoảng 4,83 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ, trở thành điểm sáng nổi bật của ngành trồng trọt.
Nghị định thư xuất khẩu bưởi và chanh sang Trung Quốc đã được ký ngày 15/4/2026. Cơ quan chuyên môn của Bộ đã cung cấp hình ảnh, video về 140 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói để phía Trung Quốc kiểm tra cấp mới; đồng thời gửi danh sách 221 mã số vùng trồng và 63 cơ sở đóng gói các loại quả đề nghị phê duyệt.
Australia đã cho phép nhập khẩu bưởi Việt Nam và lô hàng đầu tiên được xuất khẩu trong tháng 4/2026. Quá trình mở cửa thị trường Hoa Kỳ cho quả chanh leo cũng đang được đẩy nhanh, dự kiến được công bố trong năm 2026. Với quả bưởi xuất khẩu sang Nhật Bản, chuyên gia Nhật Bản đã sang Việt Nam giám sát các thí nghiệm diện rộng về ruồi đục quả để xây dựng biện pháp quản lý. Việt Nam và New Zealand cũng đã đạt được thỏa thuận cơ bản về việc mở cửa thị trường cho hoa cắt cành.
Để hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu, cải cách hành chính tiếp tục được triển khai mạnh mẽ. Trong năm 2026, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã phân cấp, phân quyền cho UBND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện bốn thủ tục hành chính; đơn giản hóa 17 thủ tục và cắt giảm 12 thủ tục. Kết quả thực hiện giúp giảm 51% thời gian giải quyết và 35,61% chi phí tuân thủ.
Để đảm bảo các mục tiêu tăng trưởng, chủ động phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro thiên tai là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Từ đầu năm đến ngày 11/8/2026, cả nước đã xảy ra 20 loại hình thiên tai. Nhiều hiện tượng bất thường xuất hiện, như lốc, sét, mưa đá, nắng nóng trên diện rộng và một đợt không khí lạnh vào đầu tháng 6 - hiện tượng không xuất hiện trong cùng thời kỳ từ năm 2014 đến năm 2025.
Các đợt mưa lớn tại miền núi phía Bắc, nhất là từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7 và từ ngày 15 đến 19/7, đã gây lũ quét, sạt lở đất nghiêm trọng tại Mường Than, tỉnh Lai Châu. Bão số 1 đổ bộ vào Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh với sức gió cấp 9, giật cấp 11 và duy trì hoạt động trên đất liền trong thời gian dài.
Thiên tai làm 52 người chết, mất tích, giảm 61,8% so với cùng kỳ năm 2025; 72 người bị thương. Thiệt hại kinh tế ước khoảng 1.457 tỷ đồng, giảm 81,6%. Ngoài ra, 137 ngôi nhà bị sập đổ, 22.430 nhà bị hư hỏng, tốc mái; hơn 32.100ha lúa, hoa màu và cây trồng bị ngập, hư hại.
Theo nhận định của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, El Niño có khả năng đạt cường độ rất mạnh, tương đương hoặc mạnh hơn đợt lịch sử năm 2015-2016 và có thể kéo dài đến đầu năm 2027. Nguy cơ thiếu mưa, nắng nóng gay gắt, hạn hán và thiếu nước tiếp tục gia tăng, nhất là tại Trung Bộ và Tây Nguyên.
Mùa mưa bão năm 2026 dự báo xuất hiện khoảng 8-10 cơn bão, áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông. Số lượng có thể không nhiều nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện bão mạnh, diễn biến phức tạp. Lũ trên các sông nhỏ ở miền Bắc và miền Trung có thể đạt báo động 2 đến trên báo động 3, kéo theo nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất và ngập lụt.
Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra là phải cập nhật phương án ứng phó sát với thực tế, bổ sung kịch bản đối với những tình huống thiên tai lớn, trên diện rộng và có mức độ tương đương các trận lũ lịch sử. Các địa phương cần chuẩn bị đầy đủ phương tiện, vật tư, trang thiết bị; kiểm tra các công trình xung yếu và nâng cao kỹ năng ứng phó cho cộng đồng ở những khu vực có nguy cơ cao.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng yêu cầu nâng cao độ tin cậy của công tác dự báo, cảnh báo; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và hợp tác quốc tế trong phòng, chống thiên tai. Công tác trực ban phải được duy trì 24/24 giờ, theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, tham mưu kịp thời các giải pháp ứng phó với El Niño, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn cũng như bão mạnh, mưa lũ cực đoan, lũ quét và sạt lở đất.
Việc bảo đảm an toàn đê điều cũng phải được thực hiện theo phương châm phát hiện sớm, xử lý ngay từ giờ đầu. Các địa phương cần rà soát hiện trạng, xác định trọng điểm xung yếu, xây dựng phương án bảo vệ; xử lý nghiêm tình trạng xây dựng trái phép, lấn chiếm bãi sông, lòng sông và hành lang bảo vệ đê.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, sạt lở bờ sông, bờ biển vẫn là vấn đề đáng lo ngại. Từ năm 2020 đến nay, các địa phương trong vùng đã xây dựng 141 công trình phòng, chống sạt lở với tổng chiều dài 343,9 km, kinh phí 19.564 tỷ đồng; trồng 4.401ha rừng và bố trí ổn định 5.000 hộ dân tại những khu vực thường xuyên ngập lũ, có nguy cơ sạt lở cao.
Tuy nhiên, nguồn kinh phí xử lý sạt lở mới đáp ứng khoảng 40% nhu cầu. Toàn vùng hiện còn 35 điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm với tổng chiều dài 119 km, gồm 21 điểm sạt lở bờ sông dài 32 km và 14 điểm sạt lở bờ biển dài 87 km. Giải pháp trước mắt là quản lý chặt chẽ việc xây dựng nhà ở, công trình và khai thác cát lòng sông; di dời người dân khỏi khu vực có nguy cơ cao; trồng, bảo vệ rừng ngập mặn ven biển; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và ưu tiên nguồn lực xử lý các trọng điểm sạt lở. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế thu hút nguồn vốn ngoài ngân sách để giảm áp lực cho Nhà nước và đáp ứng yêu cầu bảo vệ dân cư, cơ sở hạ tầng ven sông, ven biển.
Khơi thông nguồn lực và chủ động trước thiên tai là hai nhiệm vụ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hệ thống pháp luật đồng bộ, thủ tục hành chính thông thoáng và dữ liệu được kết nối sẽ tạo nền tảng để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Trong khi đó, dự báo chính xác, chuẩn bị kỹ các kịch bản và hành động từ sớm sẽ giúp bảo vệ thành quả sản xuất, duy trì tăng trưởng và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.
Thông điệp của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong tháng 8/2026 vì thế không chỉ nằm ở những con số tăng trưởng hay kim ngạch xuất khẩu. Đó còn là yêu cầu chuyển mạnh từ xử lý tình huống sang chủ động phòng ngừa; từ gia tăng sản lượng sang nâng cao chất lượng và giá trị; từ tháo gỡ từng vướng mắc riêng lẻ sang hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển. Đây là nền tảng để ngành Nông nghiệp và Môi trường giữ vững đà tăng trưởng, bảo đảm sinh kế của người dân và phát triển theo hướng xanh, hiện đại, hiệu quả, bền vững. |