Khi người dân trở thành “người gác đền” của biển

Khi người dân trở thành “người gác đền” của biển

Thứ năm, 2/7/2026, 09:14 (GMT+7)
logo Sau 17 năm được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ Sinh quyển thế giới, Cù Lao Chàm (xã Tân Hiệp, TP. Đà Nẵng) không chỉ là câu chuyện thành công về bảo tồn thiên nhiên mà còn là minh chứng sinh động cho sức mạnh của cộng đồng địa phương trong phát triển kinh tế biển bền vững. Bằng nhiều cách thức khác nhau, người dân nơi đây đang trực tiếp tham gia bảo vệ tài nguyên, gìn giữ bản sắc văn hóa và tạo dựng sinh kế xanh từ chính những giá trị của biển đảo quê hương.

Người dân kiến tạo sinh kế từ bảo tồn

Trong nhiều mô hình phát triển kinh tế biển gắn với bảo tồn tại Cù Lao Chàm, câu chuyện cua đá dán tem được xem là ví dụ điển hình cho cách cộng đồng biến tài nguyên tự nhiên thành nguồn sinh kế bền vững.

Nhiều năm trước, khi các quy định hạn chế khai thác cua đá được áp dụng, không ít người lo ngại việc siết chặt khai thác sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của ngư dân. Tuy nhiên, thực tế lại diễn ra theo chiều ngược lại.

1_1782727109.jpg
Cua đá được dán tem để xác nhận nguồn gốc và kích thước

Theo quy định, cua đá chỉ được khai thác từ tháng 3 đến tháng 9 hằng năm; cua có chiều ngang mai từ 7cm trở lên mới được phép đưa ra thị trường. Những cá thể nhỏ hoặc đang mang trứng phải được thả lại tự nhiên. Mỗi con cua hợp chuẩn đều được dán tem truy xuất nguồn gốc như một cam kết về khai thác hợp pháp và thân thiện với môi trường.

Nhờ cơ chế quản lý dựa trên sự đồng thuận của cộng đồng, giá cua đá đã tăng từ mức 400.000 - 500.000 đồng/kg trước đây lên khoảng 1 - 1,8 triệu đồng/kg hiện nay. Sản lượng khai thác giảm nhưng giá trị gia tăng trên mỗi sản phẩm lại cao hơn, giúp người dân có nguồn thu nhập ổn định trong khi nguồn lợi tự nhiên được phục hồi.

Ông Nguyễn Minh Đức, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Hiệp cho biết, địa phương luôn xác định công tác tuyên truyền, vận động người dân là yếu tố then chốt. Khi ngư dân nhận thấy việc bảo vệ nguồn lợi mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp và lâu dài, họ sẽ chủ động tham gia bảo tồn thay vì chỉ thực hiện theo quy định.

Tinh thần đó còn được thể hiện rõ trong phong trào “Nói không với túi ni lông” đã duy trì suốt gần hai thập kỷ trên đảo. Tại chợ Tân Hiệp, những chiếc túi lát hay túi giấy từ báo cũ đã trở thành hình ảnh quen thuộc.

4_1782727112.jpg
Người dân hạn chế sử dụng túi nilon để bảo vệ môi trường

“Chúng tôi dùng túi giấy, túi lát suốt 17 năm rồi. Ngày trước làm vậy vì sợ bị phạt, còn bây giờ đã thành thói quen”, bà Mai Thị Nga, tiểu thương chợ Tân Hiệp chia sẻ.

Không dừng lại ở bảo vệ môi trường, cộng đồng địa phương còn tham gia mạnh mẽ vào các mô hình du lịch sinh thái và du lịch học tập. Tiêu biểu là HTX Mộc Chàm do chị Lê Thị Bích Công và chị Nguyễn Thị Hồng Thúy sáng lập.

Tại đây, những sản vật địa phương như trà lá rừng, rong biển tự nhiên, nhàu ngâm mật ong hay các sản phẩm thảo dược được giới thiệu đến du khách thông qua các hoạt động trải nghiệm thực tế. Du khách không chỉ mua sản phẩm mà còn được tìm hiểu quy trình chế biến, câu chuyện văn hóa và tri thức bản địa phía sau mỗi sản vật.

9_1782727116.jpg
Nghề đan võng ngô đồng là nghề thủ công truyền thống ở Cù Lao Chàm

Những mô hình như Mộc Chàm đang tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân, đồng thời góp phần bảo tồn nghề truyền thống, nâng cao giá trị tài nguyên bản địa và kéo dài thời gian lưu trú của du khách.

Từ khai thác thủy sản, bảo vệ môi trường đến phát triển du lịch cộng đồng, người dân Cù Lao Chàm không còn là đối tượng thụ hưởng các chính sách bảo tồn mà đã trở thành chủ thể trực tiếp tạo ra giá trị kinh tế từ chính những tài nguyên họ đang gìn giữ.

Đồng quản lý – nền tảng cho một vùng biển phát triển bền vững

Ngày 26/5/2009, UNESCO chính thức công nhận Cù Lao Chàm – Hội An là Khu Dự trữ Sinh quyển thế giới. Hiện khu sinh quyển có diện tích 33.475 ha, bao gồm vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp, kết nối hệ sinh thái rừng, biển, cửa sông, đất ngập nước với không gian văn hóa của đô thị cổ Hội An.

8_1782727116.jpg
Con đường rực màu hoa ngô đồng ở Cù Lao Chàm

Sau 17 năm, nơi đây đã trở thành một trong những mô hình tiêu biểu của cả nước trong việc hài hòa giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển sinh kế. Các hoạt động phục hồi rạn san hô, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, giảm thiểu rác thải nhựa, thu gom lưới ma, bảo tồn các loài quý hiếm và giáo dục môi trường được duy trì thường xuyên. Trên nền tảng đó, nhiều mô hình du lịch cộng đồng, nông nghiệp sinh thái và làng nghề truyền thống đã hình thành, tạo sinh kế ổn định cho người dân mà không làm tổn hại đến hệ sinh thái.

Từ một xã đảo sống chủ yếu dựa vào khai thác biển, Cù Lao Chàm từng bước chuyển dịch sang mô hình kinh tế dựa trên du lịch sinh thái gắn với bảo tồn thiên nhiên. Trước đại dịch Covid-19, thu nhập bình quân của người dân nơi đây thuộc nhóm cao nhất tỉnh Quảng Nam (cũ). Hiện trên đảo có khoảng 44 homestay và cơ sở lưu trú do người dân trực tiếp quản lý, tạo việc làm và nguồn thu ổn định cho cộng đồng.

TS. Chu Mạnh Trinh, người có nhiều năm gắn bó với công tác bảo tồn biển tại Cù Lao Chàm nhận định, thành công lớn nhất của địa phương nằm ở phương thức “đồng quản lý” – sự tham gia của chính quyền, nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng cư dân địa phương trong quản lý tài nguyên biển.

“Người dân là yếu tố cốt lõi bởi họ trực tiếp sử dụng các dịch vụ hệ sinh thái. Sự tham gia của cộng đồng liên quan đến nhận thức, năng lực, tính tuân thủ và cả đạo đức ứng xử với thiên nhiên. Nếu thiếu người dân thì rất khó để hoàn thành mục tiêu bảo tồn”, ông nói.

6_1782727114.jpg
Mô hình bảo tồn biển Cù Lao Chàm không chỉ giúp phục hồi hệ sinh thái và bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn tạo ra các sinh kế xanh từ nghề cá, du lịch và dịch vụ

Theo ông, mô hình bảo tồn biển Cù Lao Chàm không chỉ giúp phục hồi hệ sinh thái và bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn tạo ra các sinh kế xanh từ nghề cá, du lịch và dịch vụ. Thành công này cũng góp phần đưa Cù Lao Chàm trở thành mô hình tham khảo cho nhiều khu bảo tồn biển khác trên cả nước.

Hiện, Việt Nam có nhiều khu bảo tồn biển trải dài từ Bắc vào Nam. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản trị và mức độ tham gia của cộng đồng. Khi chính quyền, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân cùng đạt được sự đồng thuận, hiệu quả bảo tồn sẽ được nâng lên rõ rệt.

Dù vẫn đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường biển hay áp lực phát triển du lịch, hành trình 17 năm qua của Cù Lao Chàm cho thấy bảo tồn không phải là rào cản của phát triển. Ngược lại, khi cộng đồng được đặt ở vị trí trung tâm, bảo tồn có thể trở thành nền tảng cho tăng trưởng xanh và sinh kế bền vững.

Người dân Cù Lao Chàm đang chứng minh rằng khát vọng làm giàu từ biển hoàn toàn có thể song hành với trách nhiệm gìn giữ thiên nhiên. Chính họ là những “người gác đền” thầm lặng, góp phần kiến tạo một vùng biển xanh cho hôm nay và các thế hệ mai sau.

 

Hà Phương