Kinh tế biển phải gắn với quốc phòng, an ninh và đối ngoại

Kinh tế biển phải gắn với quốc phòng, an ninh và đối ngoại

Thứ năm, 24/9/2026, 05:42 (GMT+7)
logo Sau hơn 7 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, nhận thức về vị trí, vai trò của biển được nâng lên, nhiều ngành kinh tế biển có bước phát triển tích cực. Tuy nhiên, những bất cập về thể chế, quản lý không gian biển, phối hợp liên ngành, nguồn lực đầu tư và bảo vệ môi trường vẫn là những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Hoàn thiện thể chế, không chỉ nhằm mở rộng không gian phát triển kinh tế mà còn là yêu cầu chiến lược để kết hợp chặt chẽ phát triển với bảo vệ chủ quyền, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và gìn giữ hệ sinh thái biển.
kinh-te-bien_1789960660.jpg
Ảnh minh họa

Biển phải trở thành không gian phát triển chiến lược

Biển đối với Việt Nam không chỉ là một lợi thế tự nhiên. Đó là không gian sinh tồn, không gian phát triển và đồng thời là không gian chiến lược về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Việt Nam có điều kiện để phát triển nhiều ngành kinh tế biển có giá trị cao, từ cảng biển, logistics, du lịch đến năng lượng tái tạo, nuôi biển công nghệ cao và các ngành kinh tế biển mới.

Nhận thức rõ vị trí đặc biệt đó, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển.

Sau hơn 7 năm triển khai Nghị quyết, vị trí, vai trò của biển trong chiến lược phát triển đất nước ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn. Hệ thống pháp luật về biển từng bước được hoàn thiện; nhiều ngành kinh tế biển có những bước tiến tích cực. Đây là những kết quả quan trọng, tạo tiền đề để Việt Nam từng bước chuyển từ khai thác lợi thế tự nhiên sang phát triển kinh tế biển theo hướng xanh, hiện đại và bền vững. Tuy nhiên, tiềm năng lớn không đồng nghĩa với giá trị phát triển tương xứng. Hệ thống thể chế, chính sách về biển còn phân tán; quản lý không gian biển còn có những điểm chồng chéo; cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng chưa thực sự hiệu quả. Nguồn lực đầu tư cho hạ tầng biển còn hạn chế, trong khi nhiều tiềm năng kinh tế biển chưa được khai thác tương xứng với lợi thế quốc gia.

Những hạn chế đó càng trở nên đáng lưu ý khi không gian biển đang chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố mới: Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường biển và nguy cơ khai thác tài nguyên thiếu bền vững. Đây không còn là những vấn đề riêng lẻ của từng ngành mà đòi hỏi một phương thức quản trị tổng hợp, thống nhất và có tầm nhìn dài hạn.

Quản trị thống nhất để phát triển xanh, bền vững

Trong giai đoạn mới, hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế biển phải được đặt trong mối quan hệ hữu cơ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh và mở rộng đối ngoại. Đây là yêu cầu mang tính nguyên tắc, bởi biển là không gian đa lợi ích, đa ngành và có tính liên kết cao.

Trước hết, cần xây dựng thể chế quản lý tổng hợp và thống nhất không gian biển quốc gia. Các hoạt động phát triển cảng biển, logistics, điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, du lịch, khai thác tài nguyên, bảo tồn đa dạng sinh học,… không thể được hoạch định hoàn toàn tách biệt. Mỗi quyết định sử dụng không gian biển đều có thể tạo ra tác động tới các ngành, lĩnh vực và địa phương khác. Vì vậy, quản lý không gian biển cần dựa trên cách tiếp cận tổng hợp, liên ngành, liên vùng; bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái với yêu cầu quốc phòng, an ninh. Các quy hoạch phát triển kinh tế biển, cảng biển, điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao và khai thác tài nguyên biển cần được tích hợp đồng bộ trong quy hoạch không gian biển quốc gia, qua đó hạn chế xung đột lợi ích và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Cùng với quản lý không gian, yêu cầu cấp thiết là đi trước một bước về thể chế đối với những ngành kinh tế biển mới. Năng lượng tái tạo ngoài khơi, kinh tế tuần hoàn biển, kinh tế carbon thấp, nuôi biển công nghiệp, khai thác dữ liệu biển, logistics biển hiện đại,… đang mở ra những không gian tăng trưởng mới. Nhưng sự phát triển của những lĩnh vực này cũng đòi hỏi những quy định pháp luật mới, rõ ràng và ổn định.

Nếu thể chế chậm hơn thực tiễn, cơ hội đầu tư và đổi mới sáng tạo có thể bị bỏ lỡ. Do đó, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung pháp luật để tạo hành lang pháp lý minh bạch, ổn định, thông thoáng, vừa khuyến khích đầu tư, vừa bảo đảm quản lý chặt chẽ tài nguyên và không gian biển.

Phát triển kinh tế biển cũng không thể tách rời bảo vệ môi trường và an ninh sinh thái biển. Bởi vậy, cần hoàn thiện cơ chế giám sát, cảnh báo sớm ô nhiễm môi trường biển; tăng cường quản lý rác thải nhựa đại dương; bảo tồn đa dạng sinh học; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh trong các ngành kinh tế biển. Bảo vệ môi trường biển phải được coi là một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển, đồng thời là một nội dung của bảo đảm an ninh phi truyền thống.

Trong một không gian có tính xuyên biên giới cao, đối ngoại biển và hợp tác quốc tế cũng cần được phát huy mạnh mẽ. Việt Nam cần thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982); đồng thời, thúc đẩy hợp tác về bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nhìn rộng hơn, quản trị biển hiện đại không thể chỉ dựa vào một ngành hay một cấp quản lý. Cần một cơ chế phối hợp đủ mạnh để kết nối các lợi ích kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong một chiến lược thống nhất. Đây chính là nơi thể chế cần đóng vai trò “kiến tạo”, thay vì chỉ làm chức năng quản lý sau khi các hoạt động phát triển đã diễn ra.

Tạo hành lang pháp lý đồng bộ, biến tiềm năng thành động lực

Trong quá trình đó, Quốc hội giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật về biển, giám sát việc thực hiện các chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển kinh tế biển và quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến quản lý, khai thác, bảo vệ tài nguyên biển.

Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, với chức năng được giao, tiếp tục nghiên cứu, thẩm tra, giám sát các dự án luật, nghị quyết và chính sách liên quan đến biển, đảo; phối hợp với Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương trong hoàn thiện hành lang pháp lý phục vụ phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Trong bối cảnh Quốc hội đẩy mạnh đổi mới hoạt động lập pháp, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về biển càng có ý nghĩa quan trọng. Những vấn đề phát sinh từ thực tiễn cần được kịp thời chuyển hóa thành chính sách và quy định pháp luật phù hợp, khả thi, tạo dư địa cho phát triển nhưng không đánh đổi môi trường, tài nguyên và lợi ích lâu dài của quốc gia.

Từ thực tiễn hoạt động của Quốc hội và công tác thẩm tra, giám sát, một số nhiệm vụ cần được tập trung trong thời gian tới.

Thứ nhất, đẩy nhanh việc sửa đổi, hoàn thiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo theo hướng tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên biển và không gian biển.

Thứ hai, sớm nghiên cứu, xây dựng cơ chế đặc thù thu hút đầu tư vào các ngành kinh tế biển mới, nhất là điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, logistics biển và kinh tế tuần hoàn biển.

Thứ ba, nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia thống nhất, phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế biển. Trong quá trình chuyển đổi số, dữ liệu không chỉ là công cụ quản lý mà ngày càng trở thành một nguồn lực quan trọng cho hoạch định chính sách và tổ chức sản xuất.

Thứ tư, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả đối với chính quyền địa phương ven biển, phát huy tính chủ động của địa phương nhưng vẫn bảo đảm quản lý thống nhất không gian và tài nguyên biển quốc gia.

Thứ năm, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế biển và khoa học, công nghệ biển. Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định khả năng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của các ngành kinh tế biển.

Trung tướng Trần Đức Thuận - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội