Kỳ 1: Bước chuyển mới trong dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
Quản trị không gian biển:

Kỳ 1: Bước chuyển mới trong dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

Thứ ba, 15/9/2026, 08:18 (GMT+7)
logo Sau 10 năm thi hành, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã tạo nền tảng quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các ngành kinh tế mới cùng nhu cầu sử dụng biển ngày càng đa dạng đang đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương thức quản lý. Dự thảo Luật lần này hướng đến bước chuyển đáng chú ý: quản lý tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia trên cơ sở quy hoạch, dữ liệu, khoa học, công nghệ và sự phối hợp giữa các ngành, địa phương.
baonnmt_hoinghi-070401_898-070403-072343_1789115961.webp
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng đồng chủ trì Hội nghị về hai dự án Luật, chiều 15/5 tại Hà Nội.
                                                         Nguồn ảnh: Báo Nông nghiệp và Môi trường

Những yêu cầu mới sau 10 năm thi hành Luật

Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 có hiệu lực từ ngày 1/7/2016, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật về biển. Luật đã tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; từng bước hình thành các công cụ quản lý, phục vụ khai thác hợp lý tài nguyên, phát triển bền vững kinh tế biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.

Những kết quả đó tiếp tục được kế thừa trong dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Tuy nhiên, thực tiễn phát triển đã đặt ra nhiều vấn đề mới mà khuôn khổ pháp luật hiện hành cần được hoàn thiện để đáp ứng.

Mười năm qua cũng là khoảng thời gian các hoạt động kinh tế trên biển phát triển ngày càng đa dạng. Bên cạnh những ngành truyền thống như hàng hải, dầu khí, khai thác và nuôi trồng thủy sản, nhu cầu phát triển điện gió ngoài khơi, nuôi biển xa bờ, logistics, du lịch biển, nghiên cứu tài nguyên biển sâu, xây dựng công trình và hạ tầng trên biển đang mở ra những không gian tăng trưởng mới.

Trên cùng một vùng biển có thể xuất hiện nhu cầu sử dụng của nhiều ngành, nhiều chủ thể. Khu vực có tiềm năng phát triển điện gió ngoài khơi có thể đồng thời nằm trong phạm vi hoạt động hàng hải, dầu khí, khai thác hoặc nuôi trồng thủy sản. Một vùng biển ven bờ có thể vừa phục vụ du lịch, vừa là không gian sinh kế truyền thống của cộng đồng dân cư, đồng thời có giá trị về bảo tồn hệ sinh thái, cảnh quan và văn hóa.

Sự gia tăng của các hoạt động đa ngành, đa mục đích đặt ra yêu cầu phải có cơ chế phân bổ và điều phối thống nhất. Nếu mỗi hoạt động chỉ được xem xét trong phạm vi chuyên ngành mà thiếu đánh giá tổng hợp, việc xác định thứ tự ưu tiên, xử lý chồng lấn và bảo đảm hài hòa lợi ích sẽ gặp nhiều khó khăn.

Theo Tờ trình số 9610/TTr-BNNMT ngày 20/8/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, pháp luật về quản lý, sử dụng không gian biển chưa hình thành một chế định đầy đủ, thống nhất ở cấp luật; chưa đáp ứng yêu cầu quản trị không gian biển theo hướng hiện đại, tổng hợp và tổ chức thực hiện hiệu quả Quy hoạch không gian biển quốc gia.

Tờ trình chỉ ra rằng pháp luật hiện hành chưa quy định đầy đủ nguyên tắc, tiêu chí và cơ chế phân bố, điều phối không gian biển; xử lý xung đột, chồng lấn; sử dụng biển đa mục đích; quản lý đảo nhân tạo và công trình trên biển. Trách nhiệm quản lý hành chính trên biển giữa Trung ương và địa phương cũng cần được tiếp tục phân định rõ hơn.

Thực tế được Tờ trình đề cập là đã phát sinh sự giao thoa giữa nhu cầu phát triển điện gió ngoài khơi với hàng hải, dầu khí, nuôi trồng và khai thác thủy sản. Đây không phải mâu thuẫn giữa những mục tiêu phát triển, mà là vấn đề cần được xử lý bằng một phương thức phân bổ không gian khoa học, minh bạch, xác định rõ thứ tự ưu tiên và điều kiện cùng tồn tại giữa các hoạt động.

Một yêu cầu khác là bổ sung thông tin, dữ liệu phục vụ quản lý và phát triển kinh tế biển. Theo Tờ trình, điều tra tổng hợp tài nguyên biển mới thực hiện được 38,7% diện tích vùng biển ở tỷ lệ 1:500.000, chưa đạt mục tiêu khoảng 50%. Nhiều khu vực biển sâu, biển xa còn thiếu dữ liệu điều tra cơ bản.

Trong quản lý biển, dữ liệu không chỉ phục vụ nghiên cứu. Đây còn là căn cứ để xác định tiềm năng tài nguyên, đánh giá hiện trạng môi trường, xây dựng quy hoạch, phân vùng sử dụng, nhận diện nguy cơ chồng lấn và hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền xem xét các phương án phát triển.

Tờ trình đánh giá nguồn lực dành cho điều tra cơ bản, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu biển còn hạn chế. Đặc thù của hoạt động trên biển đòi hỏi kinh phí lớn, công nghệ hiện đại và thời gian thực hiện dài, trong khi nhiều khu vực biển sâu, biển xa chưa được khảo sát ở mức độ chi tiết cần thiết.

Năm 2025, Quốc hội đã ban hành Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, trong đó có một số quy định của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Theo Tờ trình, những nội dung sửa đổi này đã góp phần đáp ứng yêu cầu về sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính và xử lý một số vướng mắc cấp bách.

Tuy nhiên, các vấn đề lớn liên quan đến quản lý không gian biển, quyền sử dụng khu vực biển, kiểm soát ô nhiễm, phát triển kinh tế biển và chuyển đổi số cần được giải quyết một cách tổng thể hơn. Vì vậy, hồ sơ dự án Luật lần này được xây dựng theo hướng thay thế Luật năm 2015, thay vì tiếp tục sửa đổi một số điều riêng lẻ.

Dự thảo Luật gồm 6 chương, 76 điều. Trong đó, Chương III về quản lý, sử dụng không gian biển là chương hoàn toàn mới, gồm 29 điều. Việc dành một chương riêng với dung lượng lớn cho nội dung này cho thấy đây là một trong những trọng tâm đổi mới của dự thảo.

Theo Tờ trình, mục đích xây dựng Luật là hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; tạo nền tảng pháp lý cho chuyển đổi từ quản lý theo ngành sang quản trị biển hiện đại, tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia, dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu số, Quy hoạch không gian biển quốc gia và quản trị rủi ro.

Tại Hội thảo quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững” ngày 5/6/2026, PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi, đại biểu Quốc hội khóa XV, nhận định những nội dung sửa đổi thể hiện sự chuyển đổi trong tư duy quản trị biển, từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, hướng đến yêu cầu “vừa quản lý chặt chẽ vừa kiến tạo phát triển kinh tế biển bền vững”.

Điểm cần được hiểu rõ là quản trị tổng hợp không thay thế quản lý chuyên ngành. Theo Tờ trình, việc quản lý, khai thác từng loại tài nguyên và các hoạt động đầu tư, xây dựng, hàng hải, thủy sản, dầu khí, khoáng sản, năng lượng trên biển vẫn thực hiện theo pháp luật chuyên ngành. Dự thảo Luật tập trung điều chỉnh những mối quan hệ có tính tổng hợp, liên ngành, liên vùng và các vấn đề đặc thù trên biển, hải đảo.

Nói cách khác, mỗi cơ quan vẫn thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, nhưng các quyết định liên quan đến biển cần được đặt trong một tổng thể thống nhất, có sự phối hợp, chia sẻ thông tin và xử lý những vấn đề vượt ra ngoài phạm vi của một ngành hoặc một địa phương.

image_ba53080487_1789116304.png
Hội nghị tham vấn Chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với sự tham dự của các đại biểu đại diện cho thường trực các Ủy ban của Quốc hội; Ủy ban MTTQ Việt Nam; các Bộ, ngành; UBND các tỉnh thành phố cùng các chuyên gia, nhà khoa học và các cơ quan thông tấn báo chí

Quản lý không gian biển theo cách tiếp cận ba chiều

Một trong những nội dung mới có tính nền tảng của dự thảo là bổ sung khái niệm “không gian biển”. Theo khoản 2 Điều 3 của dự thảo Luật, không gian biển là không gian ba chiều, có phạm vi bao gồm vùng đất ven biển, mặt nước biển, khối nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, các hải đảo và khoảng không phía trên; được phân vùng, quản lý, sử dụng nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển.

Khái niệm này mở rộng cách nhìn về một khu vực biển. Biển không chỉ được xác định bằng chiều dài và chiều rộng trên mặt nước. Trên cùng một tọa độ địa lý còn có khối nước, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển và khoảng không phía trên. Mỗi lớp không gian có thể gắn với một hoạt động khác nhau nhưng giữa các hoạt động luôn tồn tại quan hệ tác động qua lại.

Chẳng hạn, mặt nước có thể được sử dụng cho giao thông hàng hải; khối nước phục vụ nuôi trồng thủy sản; đáy biển có thể liên quan đến đường cáp, đường ống hoặc công trình; khoảng không phía trên gắn với các yêu cầu về hàng không, năng lượng và quốc phòng. Nếu từng lớp không gian được xem xét tách rời, nguy cơ phát sinh xung đột trong quá trình sử dụng là khó tránh khỏi.

Dự thảo không chỉ đưa ra khái niệm mang tính mô tả. Khoản 3 Điều 3 xác định quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển là việc Nhà nước thực hiện quản trị thông qua chiến lược, quy hoạch, dữ liệu và cơ chế điều phối, phối hợp tập trung, liên ngành; dựa trên tiếp cận hệ sinh thái; thực hiện phân vùng, phân bổ, quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững.

Nội hàm của quản lý tổng hợp còn bao gồm phòng ngừa, giải quyết xung đột, chồng lấn trong sử dụng biển; hài hòa giữa phát triển với bảo tồn, bảo vệ môi trường; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia. Như vậy, thay đổi không chỉ nằm ở phạm vi quản lý mà còn ở phương thức ra quyết định. Một hoạt động trên biển phải được xem xét trong quan hệ với các ngành khác, với điều kiện tự nhiên, sức chịu tải của môi trường, giá trị hệ sinh thái và yêu cầu bảo đảm lợi ích lâu dài.

Điều 19 của dự thảo quy định không gian biển quốc gia được quản lý tổng hợp, thống nhất. Việc quản lý, sử dụng phải bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển; phù hợp với Hiến pháp, Luật Biển Việt Nam, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Cùng với đó, Nhà nước bảo đảm bình đẳng, minh bạch trong tiếp cận, khai thác, sử dụng không gian biển; bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư, người sử dụng và cộng đồng dân cư.

Theo dự thảo Luật, việc sử dụng khu vực biển phải tiết kiệm, hiệu quả, dựa trên tiếp cận hệ sinh thái; phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái, đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản.

Điều 19 cũng xác định việc giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển không làm thay đổi chế độ pháp lý của các vùng biển Việt Nam; không làm phát sinh quyền sở hữu đối với biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, khối nước, mặt nước biển hoặc vùng trời thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Quy định này tạo một ranh giới pháp lý quan trọng: dự thảo mở rộng cơ chế sử dụng không gian biển nhưng không làm thay đổi nguyên tắc về chủ quyền và chế độ sở hữu. Nội dung cụ thể về xác lập, thực hiện và kiểm soát quyền sử dụng khu vực biển sẽ được phân tích ở Kỳ 2.

Trong cấu trúc quản trị được dự thảo thiết kế, Quy hoạch không gian biển quốc gia giữ vai trò quan trọng. Điều 20 quy định việc lập và điều chỉnh quy hoạch phải phục vụ quản lý tổng hợp, thống nhất, liên ngành, liên vùng; dựa trên tiếp cận hệ sinh thái và dữ liệu khoa học; xử lý xung đột, chồng lấn; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các ngành, lĩnh vực và các chủ thể sử dụng.

Không gian biển được phân bổ theo chức năng, mục đích và thứ tự ưu tiên. Việc sử dụng phải tiết kiệm, hiệu quả, có thể kết hợp đa mục đích, lưỡng dụng khi đáp ứng điều kiện; phù hợp với đặc điểm tự nhiên, sinh thái, sức chịu tải của môi trường và yêu cầu phát triển bền vững.

Điều 20 còn đặt ra yêu cầu bảo đảm sự liên kết giữa vùng đất ven biển, hải đảo và vùng biển. Đây là nội dung có ý nghĩa thực tiễn bởi các hoạt động trên đất liền, đặc biệt tại đô thị, khu công nghiệp và lưu vực sông, có thể tác động trực tiếp đến môi trường biển. Ngược lại, phát triển các ngành kinh tế trên biển phụ thuộc vào hệ thống cảng, logistics, năng lượng, nhân lực và dịch vụ hậu cần trên đất liền.

Để đưa quy hoạch vào thực tiễn, dự thảo giao Chính phủ chỉ đạo điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng và nhu cầu sử dụng ở các vùng, khu vực cụ thể; xây dựng phân vùng sử dụng biển, bản đồ chuyên đề và dữ liệu không gian biển ở tỷ lệ phù hợp.

Những thông tin này sẽ phục vụ quản lý, phân bổ không gian, xử lý nguy cơ chồng lấn và tổ chức thực hiện quy hoạch. Quy hoạch vì vậy không chỉ là bản định hướng sử dụng biển trong thời gian dài, mà cần được hỗ trợ bằng hệ thống dữ liệu đủ chi tiết và thường xuyên cập nhật.

anh-bai-ky-1_1789117446.png
Ứng dụng dữ liệu và cách tiếp cận liên ngành góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, phân bổ và sử dụng bền vững không gian biển. Ảnh minh họa.

Điều phối liên ngành trên nền tảng quy hoạch và dữ liệu

Biển là không gian tự nhiên liên thông, trong khi hoạt động quản lý được thực hiện theo chức năng của nhiều bộ, ngành và địa phương. Dự thảo Luật vì vậy dành nội dung quan trọng để hoàn thiện cơ chế điều phối, phối hợp tập trung, liên ngành.

Theo Điều 7, cơ chế này được thực hiện đối với vấn đề liên quan đến từ hai bộ, cơ quan ngang bộ hoặc từ hai tỉnh, thành phố trở lên; vấn đề vượt quá phạm vi quản lý của một ngành, lĩnh vực, địa phương; vấn đề phát sinh xung đột, chồng lấn trong khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian biển.

Dự thảo đồng thời xác định việc điều phối không làm thay đổi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền quản lý nhà nước chuyên ngành; không thay thế quyết định đầu tư, văn bản chấp thuận hoặc giấy phép chuyên ngành; không làm phát sinh thêm tầng nấc, thủ tục hành chính.

Quy định này cho thấy, mục tiêu của điều phối là kết nối các cơ quan, xử lý những vấn đề có tính tổng hợp, liên vùng, liên lĩnh vực, thay vì tạo ra một thủ tục cấp phép mới. Mỗi cơ quan vẫn thực hiện đúng thẩm quyền, đồng thời có trách nhiệm phối hợp, chia sẻ dữ liệu và xử lý những nội dung liên quan đến nhiều chủ thể.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cơ chế điều phối là giải quyết xung đột, chồng lấn trong sử dụng không gian biển. Điều 21 của dự thảo đưa ra thứ tự ưu tiên tương đối rõ. Trước hết là bảo đảm quốc phòng, an ninh, độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển. Tiếp đó là sự phù hợp với chủ trương, định hướng chiến lược phát triển biển và hệ thống quy hoạch.

Việc lựa chọn phương án sử dụng phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường; ưu tiên lợi ích công cộng, lợi ích lâu dài của quốc gia và lợi ích chính đáng của cộng đồng dân cư ven biển. Những hoạt động sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, đa mục đích, lưỡng dụng, ít tác động xấu đến môi trường, góp phần bảo vệ hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu cũng được ưu tiên xem xét.

Trường hợp không xác định được thứ tự ưu tiên hoặc các tiêu chí có giá trị tương đương, cơ quan có thẩm quyền quyết định trên cơ sở đánh giá tổng hợp và ý kiến của cơ quan, tổ chức, cộng đồng có liên quan.

Dự thảo yêu cầu hoạt động có nguy cơ xung đột, chồng lấn phải được đánh giá ngay trong quá trình lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư hoặc xem xét nhu cầu sử dụng khu vực biển. Cách tiếp cận này hướng đến nhận diện, xử lý sớm nguy cơ giao thoa giữa các hoạt động trước khi dự án được triển khai. Dự thảo cũng yêu cầu việc xử lý chồng lấn phải ưu tiên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đang sử dụng khu vực biển hợp pháp; xem xét hiện trạng quản lý, khai thác và sử dụng thực tế.

Cùng với điều phối liên ngành, Điều 22 bổ sung nguyên tắc phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển. Vùng biển nằm trong ranh giới quản lý hành chính của cấp tỉnh thuộc trách nhiệm quản lý của địa phương; vùng biển nằm ngoài ranh giới quản lý hành chính cấp tỉnh là vùng biển chung do Trung ương quản lý.

Đối với khu vực biển thuộc phạm vi từ hai đơn vị hành chính trở lên hoặc vừa thuộc phạm vi quản lý của địa phương, vừa thuộc vùng biển chung, dự thảo quy định áp dụng cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng do Chính phủ quy định.

Việc phân định trách nhiệm không làm thay đổi phạm vi chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia; không làm phát sinh đơn vị hành chính mới trên biển; không thay đổi địa giới hành chính trên đất liền, đảo, quần đảo. Quy định này cũng không ảnh hưởng đến thẩm quyền của các cơ quan trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hàng hải, hàng không, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên, phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.

1-1780678066_1789118025.jpg
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp 

Chiều ngày 5/6/2026, tại Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững”, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo lần này không chỉ là sửa đổi một đạo luật chuyên ngành, mà còn là cơ hội quan trọng để đổi mới tư duy quản trị biển theo hướng tổng hợp, thống nhất, hiện đại và hiệu quả hơn. Tinh thần xuyên suốt là thể chế phải tạo thuận lợi cho phát triển nhưng không buông lỏng quản lý; phải khơi thông nguồn lực nhưng bảo đảm môi trường, hệ sinh thái và lợi ích lâu dài của quốc gia; phải phân cấp, phân quyền mạnh hơn nhưng đi đôi với trách nhiệm, kiểm tra, giám sát và kiểm soát rủi ro. Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp tin tưởng rằng, với sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành, địa phương; sự đồng hành của doanh nghiệp, nhà khoa học, tổ chức quốc tế và cộng đồng xã hội, chúng ta sẽ từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, phát huy hiệu quả tiềm năng to lớn của biển, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.

Theo Tờ trình, dự thảo đẩy mạnh phân quyền, phân cấp cho địa phương đối với những nhiệm vụ địa phương có khả năng thực hiện hiệu quả, phù hợp với phạm vi quản lý và điều kiện thực tế. Trung ương tập trung vào các nhiệm vụ mang tính chiến lược, liên ngành, liên vùng, liên tỉnh và những vấn đề liên quan đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, chủ quyền hoặc yếu tố nước ngoài.

Phân quyền, phân cấp được gắn với năng lực thực thi, nguồn lực, dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật, cơ chế kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình. Đây là điều kiện để thẩm quyền được giao đi cùng khả năng tổ chức thực hiện.

Một nội dung mới khác là quản lý đảo nhân tạo và công trình trên biển. Theo Điều 23, việc xây dựng, quản lý đảo nhân tạo, công trình trên biển phải phù hợp với Quy hoạch không gian biển quốc gia và các quy hoạch có liên quan; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, an toàn hàng hải, hàng không; bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên và di sản văn hóa.

Dự thảo phân biệt đảo nhân tạo được xây dựng trong nội thủy, lãnh hải, hình thành khu vực đất ổn định, sử dụng lâu dài và đáp ứng điều kiện do Chính phủ quy định với những đảo nhân tạo, công trình trên biển không đáp ứng điều kiện này.

Trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện thì khu vực đất hình thành trên đảo nhân tạo được quản lý theo pháp luật về đất đai, pháp luật có liên quan và các quy định đặc thù về biển. Những trường hợp còn lại tiếp tục được quản lý theo chế độ sử dụng khu vực biển và không làm phát sinh quyền sử dụng đất.

Bên cạnh quy hoạch và điều phối, dữ liệu được xác định là một nền tảng của mô hình quản trị mới. Theo Điều 15, Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được xây dựng, quản lý tập trung, thống nhất; kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành có liên quan. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương có biển và các tổ chức liên quan có trách nhiệm cung cấp, cập nhật dữ liệu thuộc phạm vi quản lý để tích hợp vào hệ thống chung.

Điều 16 xác định chuyển đổi số tập trung vào số hóa hồ sơ, quy trình nghiệp vụ, thủ tục hành chính; phát triển nền tảng số dùng chung; ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, viễn thám, hệ thống thông tin địa lý trong điều tra, quan trắc, dự báo, cảnh báo và hỗ trợ ra quyết định.

Dữ liệu đầy đủ và được chia sẻ không chỉ giúp cơ quan quản lý nắm rõ hiện trạng từng khu vực biển mà còn hỗ trợ phát hiện sớm nguy cơ chồng lấn, theo dõi quá trình thực hiện quy hoạch và nâng cao khả năng giám sát các hoạt động trên biển.

Từ một đạo luật tập trung vào quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường, dự thảo lần này đang đặt nền móng cho một khuôn khổ quản trị rộng hơn: có quy hoạch làm trục định hướng, dữ liệu làm cơ sở ra quyết định, điều phối liên ngành để xử lý các vấn đề giao thoa và hệ thống nguyên tắc để xác định thứ tự ưu tiên khi nhiều nhu cầu phát triển cùng xuất hiện trên một không gian.

Tại Hội thảo quốc gia ngày 5/6/2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho rằng, hoàn thiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là bước đi quan trọng để xây dựng nền quản trị biển hiện đại, khơi thông nguồn lực phát triển, hướng tới mục tiêu quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.

Tuy nhiên, mô hình quản trị chỉ có thể đi vào thực chất khi quyền và nghĩa vụ của người sử dụng khu vực biển được xác lập rõ ràng. Ai được giao, cho thuê hoặc đăng ký sử dụng; quyền đó được ghi nhận bằng hình thức nào; có thể chuyển nhượng, cho thuê lại, góp vốn, thế chấp ra sao; cơ chế nào bảo đảm khơi thông nguồn lực nhưng không dẫn đến cách hiểu “tư hữu hóa” biển?- Đó là nhóm chính sách mới có tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và phương thức Nhà nước phân bổ nguồn lực biển.

Kỳ 2: “Quyền sử dụng khu vực biển - Khơi thông nguồn lực phát triển”.

 

Hồng Minh