Rút ngắn thủ tục, bỏ hạn mức diện tích và trao quyền cho cấp xã – Nghị quyết 36/2026/NQ-CP mở đường cho sầu riêng Việt vươn xa. Dù vậy, "tấm vé" xuất khẩu chỉ thực sự bền vững khi tinh thần tự giác, sự minh bạch trong canh tác và kỷ luật thị trường được giữ vững qua từng vụ thu hoạch.
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP (ban hành ngày 31/7/2026) đánh dấu bước cải cách hành chính sâu rộng khi chuyển đổi mạnh mẽ từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm, thực hiện cấp mã số toàn trình trên môi trường mạng thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia bằng tài khoản VNeID. Quy trình mới vận hành theo nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự kê khai và tự chịu trách nhiệm, giúp rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ đối với vùng trồng phục vụ tiêu thụ nội địa xuống không quá 3 ngày làm việc và không quá 10 ngày làm việc đối với vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Đáng chú ý, việc bãi bỏ quy định diện tích tối thiểu 10 ha và xác định mã số theo mã định danh thửa đất đã tháo gỡ nút thắt lớn cho các hộ nông dân quy mô nhỏ. Nhờ đó, chỉ sau 55 ngày triển khai Nghị quyết, cả nước đã cấp mới thành công 787 mã số vùng trồng.
Song hành cùng làn sóng số hóa, điểm đột phá then chốt mang tính quyết định là việc phân cấp, giao thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết hồ sơ trực tiếp về UBND cấp xã, giúp thủ tục hành chính tiến gần hơn tới từng mảnh vườn của người dân. Đánh giá về bước chuyển đổi này, anh Nguyễn Tuấn Anh (nhà vườn trồng sầu riêng tại phường Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk) bộc bạch rằng trước đây việc đăng ký mã số vùng trồng tốn rất nhiều thời gian đi lại và chờ đợi qua nhiều khâu trung gian. Giờ đây nhờ kê khai trực tuyến cùng sự hướng dẫn tận tình từ cán bộ nông nghiệp xã, quy trình diễn ra vô cùng nhanh chóng và minh bạch. Những hộ gia đình chỉ có vài sào sầu riêng cảm thấy rất phấn khởi vì không còn lo bị đứng ngoài luồng xuất khẩu do rào cản diện tích hay thủ tục rườm rà.
Tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, sự hỗ trợ kịp thời từ chính quyền cơ sở đã mang lại sự thay đổi rõ rệt trong nhận thức của người dân. Ông Nông Văn Huân (xã Bảo Lâm 1, tỉnh Lâm Đồng) cho biết ban đầu bà con chưa hiểu rõ mã số vùng trồng là gì và thường nghĩ đó là thủ tục giấy tờ phức tạp của doanh nghiệp. Khi cán bộ xã và lực lượng khuyến nông về tận vườn cầm tay chỉ việc, hướng dẫn kê khai trực tiếp trên điện thoại, bà con mới vỡ lẽ đây chính là “địa chỉ định danh” khẳng định giá trị trái sầu riêng của gia đình mình. Nhờ quy trình đơn giản cùng sự đồng hành tại chỗ từ cấp xã, bà con đã tự tin đăng ký để chủ động đưa sản phẩm vào chuỗi xuất khẩu bài bản.
Thế nhưng, tốc độ cấp mã số càng nhanh thì yêu cầu về công tác giám sát, hậu kiểm lại càng phải siết chặt và tính minh bạch của dữ liệu càng phải được nâng cao. Trong đó, ba nguyên tắc cốt lõi cần được quán triệt xuyên suốt tới mọi người dân và doanh nghiệp bao gồm việc mã số vùng trồng không thay thế giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không đồng nghĩa với chứng nhận chất lượng sản phẩm, đồng thời không làm giảm trách nhiệm tuân thủ các quy định kỹ thuật khắt khe từ thị trường nhập khẩu. Mã số thực chất chỉ là "tấm vé" thông hành ban đầu, trong khi yếu tố quyết định sự sống còn của thương hiệu sầu riêng nằm ở năng lực duy trì quy trình canh tác an toàn, ghi chép nhật ký sản xuất chuẩn xác và kiểm soát chặt chẽ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật qua từng mùa vụ.
Từ góc nhìn của người trực tiếp sản xuất, bà Lê Thị Mai (đại diện hộ liên kết trồng sầu riêng tại Gia Lai) tâm sự rằng việc được cấp mã số thuận lợi là niềm vui lớn, nhưng giữ vững mã số qua từng vụ thu hoạch mới là bài toán sinh tử. Qua các buổi tập huấn chuyên môn, bà con hiểu rất rõ chỉ cần một nhà vườn trong vùng liên kết xịt thuốc sai quy định hay ghi chép nhật ký qua loa là có thể khiến mã số của cả hợp tác xã bị cảnh báo hoặc thu hồi. Chính vì vậy, các nhà vườn đều bảo nhau phải làm ăn trung thực và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật để giữ gìn uy tín chung cho trái sầu riêng.
Cùng chung quyết tâm giữ vững kỷ luật canh tác khi chuyển sang cơ chế hậu kiểm, ông Trần Văn Hai (hộ trồng 2ha sầu riêng tại tỉnh Tiền Giang) bày tỏ quan điểm rằng khi Chính phủ đã tạo điều kiện cho nông dân tự kê khai và nhận mã số nhanh chóng thì bản thân người trồng càng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm. Việc xuất khẩu chính ngạch sang các thị trường lớn đòi hỏi khâu kiểm tra dư lượng cực kỳ gắt gao. Nếu người dân tự khai mà làm dối, khi cơ quan chức năng hậu kiểm phát hiện vi phạm thì không chỉ bản thân bị thu hồi mã số mà còn làm tổn hại đến hình ảnh nông sản Việt Nam. Do đó, việc tự kê khai bắt buộc phải đi đôi với tinh thần tự giác tuân thủ nhật ký vật tư, coi đó là con đường duy nhất để phát triển lâu dài.
Tinh thần chủ động nâng cao trách nhiệm của nhà vườn kết hợp cùng vai trò "cầm tay chỉ việc" của khuyến nông cơ sở chính là giải pháp gốc rễ để triệt tiêu nguy cơ gian lận cùng tình trạng "cấp nhanh, quản lý lỏng". Khi kỷ luật canh tác trở thành nếp nghĩ, nếp làm của người nông dân trên cả nước, mã số vùng trồng mới thực sự trở thành bệ phóng đưa trái sầu riêng Việt Nam tự tin vươn xa và khẳng định vị thế bền vững trên thị trường quốc tế.
|
TP. Hồ Chí Minh triển khai Nghị quyết 36/2026/NQ-CP về cấp mã số vùng trồng Để hiện thực hóa các quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo Nghị quyết 36/2026/NQ-CP, UBND TP. Hồ Chí Minh đã ban hành chỉ đạo phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng sở, ngành và chính quyền cơ sở: Sở Nông nghiệp và Môi trường (Đầu mối chủ trì): Hướng dẫn, tập huấn cho UBND cấp xã, tổ chức, cá nhân; chủ trì rà soát, chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng, cơ sở đóng gói; công khai danh sách mã số kèm trạng thái vận hành (đang hoạt động, chờ phê duyệt, tạm dừng, thu hồi) trên Hệ thống xử lý nghiệp vụ để người dân và doanh nghiệp tiện tra cứu. Sở Khoa học và Công nghệ: Phối hợp triển khai các giải pháp chuyển đổi số, ứng dụng khoa học – công nghệ và truy xuất nguồn gốc trong quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói và kiểm soát chất lượng nông sản. Sở Công Thương và Sở Tài chính: Sở Công Thương hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã kết nối thị trường xuất khẩu và phổ biến quy định kỹ thuật của nước nhập khẩu; Sở Tài chính tham mưu bố trí kinh phí thực hiện theo quy định ngân sách. UBND cấp xã (Lực lượng thực thi trực tiếp): Bố trí nguồn lực tiếp nhận, giải quyết kịp thời hồ sơ trên địa bàn; trực tiếp kiểm tra, xác nhận thông tin thực tế, thực hiện hậu kiểm và báo cáo danh sách mã số đạt chuẩn xuất khẩu về Sở Nông nghiệp và Môi trường. Hội Nông dân: Tăng cường tuyên truyền các quy định về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, đồng thời phối hợp hỗ trợ nông dân hoàn thiện hồ sơ đăng ký. |