Hạn hán, mưa lớn và thời tiết cực đoan đang gia tăng rủi ro đối với sản xuất cà phê, đặc biệt với các hộ quy mô nhỏ. Bên cạnh Nông nghiệp thông minh thích ứng với khí hậu (CSA), vấn đề về Bảo hiểm chỉ số thời tiết (WII) được kỳ vọng trở thành “lá chắn” tài chính, giúp nông dân giảm thiệt hại và phục hồi sản xuất… Tuy nhiên, để nhân rộng, cần sự kết nối đồng bộ giữa chính sách, doanh nghiệp, hợp tác xã, tín dụng và dịch vụ.
Thông tin được chia sẻ tại Cuộc họp Nhóm Công tác Cấp cao (HWG) về gắn kết Chính sách - Thị trường trong quản lý rủi ro khí hậu đối với ngành Cà phê Việt Nam, tổ chức ngày 4/9/2026 tại TP. Hồ Chí Minh.
Cuộc họp nằm trong khuôn khổ Dự án “Nhân rộng bảo hiểm rủi ro khí hậu cho các Hộ sản xuất cà phê quy mô nhỏ tại Việt Nam”, triển khai từ tháng 01/2025 đến tháng 12/2026. Dự án do WTW chủ trì, với sự tham gia của ACOM, Đại học Southern Queensland (UniSQ), Bảo Minh, Liên minh Bioversity International và CIAT, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và Global Parametrics… Global Coffee Platform (GCP) Việt Nam giữ vai trò điều phối, thúc đẩy đối thoại trung lập giữa các bên.
Theo nghiên cứu khảo sát 404 hộ tại Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng, do bà Nguyễn Mai Hương, Cán bộ nghiên cứu thuộc Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) trình bày, khoảng 70% nông dân từng chịu tác động của hạn hán, làm năng suất giảm bình quân 13,5%/năm... Rủi ro cao nhất tập trung từ tháng 2 - 5, đúng giai đoạn ra hoa và đậu quả non.
Gần 67% hộ chịu ảnh hưởng của mưa lớn, với mức giảm năng suất bình quân 12,3%/năm; rủi ro tập trung từ tháng 7 - 11, giai đoạn phát triển quả. Gia Lai chịu ảnh hưởng rõ nhất, với khoảng 40% nông dân ghi nhận tác động từ trung bình đến nghiêm trọng của cả hạn hán và mưa lớn.
Nông dân đã chủ động áp dụng nhiều giải pháp CSA, như quản lý nước, che phủ đất, trồng xen, sử dụng giống chống chịu và quản lý sâu bệnh... Tỷ lệ áp dụng bình quân 7 nhóm thực hành, đạt 59,1%; Đắk Lắk 66,8%, Lâm Đồng 61,8% và Gia Lai 51%.
Tuy nhiên, khả năng thích ứng còn chênh lệch, với chi phí đầu tư cao, khó tiếp cận tín dụng và bảo hiểm, thiếu tập huấn, lao động và thông tin khí hậu là những rào cản chính... Khoảng 27% mẫu khảo sát là hộ nhỏ thuộc nhóm dân tộc thiểu số; trong nhóm chịu tác động khí hậu từ đáng kể đến nghiêm trọng, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 33 - 45%.
Trường hợp thực tế của ông Phan Văn Hợp, nông dân trồng cà phê tại xã La Grai (Gia Lai) cho thấy, CSA không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro… Dù đã trồng xen cây ăn quả, che phủ đất và sử dụng phân bón hợp lý, mưa lớn bất thường vẫn khiến hoa rụng, sâu bệnh gia tăng và gây khó khăn cho thu hoạch. Theo ông Hợp, mưa lớn có thể làm năng suất giảm 20 - 30%, còn hạn hán nghiêm trọng có thể khiến sản lượng giảm 30 - 50%.
Tại sự kiện HWG, ông Mai Văn Thành, Điều phối Dự án quản lý rủi ro khí hậu cho ngành cà phê Việt Nam cho rằng, biến đổi khí hậu tác động mạnh nhất đến các hộ nhỏ, bởi một biến động thời tiết có thể ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, thu nhập và sinh kế, đồng thời lan rộng tới toàn bộ chuỗi giá trị… “Muốn xây dựng một chuỗi cà phê bền vững, thì trước hết cần bảo vệ người trồng cà phê, đặc biệt là các hộ sản xuất nhỏ”, ông Thành nhấn mạnh.
Khoảng cách nhận thức đang là một trong những rào cản lớn đối với WII. Trong 386 hộ trồng cà phê tham gia nghiên cứu mức sẵn sàng chi trả, có khoảng 43% từng biết đến WII, nhưng chỉ 20% từng mua. Có tới 78,4% hộ chưa mua cho biết nguyên nhân là chưa biết lợi ích của bảo hiểm; 58% nông dân có xu hướng né tránh rủi ro và dễ không mua nếu thiếu niềm tin.
Mức sẵn sàng chi trả bình quân khoảng 2,46 triệu đồng cho hợp đồng có mức bồi thường tối đa 20 triệu đồng, bảo hiểm hạn hán tháng 3 - 5 và đóng phí hàng tháng… Nông dân ưu tiên phương thức đóng phí linh hoạt, bảo hiểm gắn với giai đoạn sinh trưởng quan trọng và cần hỗ trợ phí đối với nhóm dễ bị tổn thương.
Trong chu kỳ 2025 - 2026, mô hình WII được thí điểm với bảo hiểm mưa lớn từ tháng 11/2025 đến tháng 01/2026 và bảo hiểm mưa ít từ tháng 02 đến tháng 5/2026. Kết quả bước đầu cho thấy, sản phẩm có khả năng tạo hỗ trợ tài chính khi xảy ra thời tiết cực đoan. Bảo hiểm mưa lớn có 44 hộ tham gia trên 50,61 ha, cả 44 hộ đều được kích hoạt chi trả, tổng số 1.195,14 USD. Với bảo hiểm mưa ít, 191 hộ tham gia trên 138 ha, trong đó 33 hộ được chi trả tổng cộng 635,45 USD.
Đại diện ACOM cho biết, các hoạt động truyền thông và tập huấn đã tiếp cận hơn 3.000 nông hộ… Tuy nhiên, người dân vẫn cần thêm thời gian để kiểm chứng hiệu quả và xây dựng niềm tin.
Một mô hình đáng chú ý nữa, là Chương trình Yara hỗ trợ bảo hiểm mưa ít cho 100 khách hàng tại Di Linh, Lâm Đồng. Mỗi hộ được bảo hiểm 0,5 ha, được hỗ trợ 210.656 đồng phí bảo hiểm và có mức chi trả tối đa 1.306.800 đồng/hộ… Đây là ví dụ cho thấy doanh nghiệp trong chuỗi giá trị có thể chia sẻ chi phí bảo hiểm, góp phần bảo vệ vùng nguyên liệu.
Ở góc độ quản lý, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) khẳng định, xây dựng nền sản xuất thích ứng vẫn là giải pháp cốt lõi; bảo hiểm chỉ là công cụ hỗ trợ khi thiên tai vượt quá khả năng chống chịu của nông dân.
Ông Mạnh lưu ý, bảo hiểm dựa trên lượng mưa bình quân có thể chưa phản ánh đầy đủ thiệt hại khi mưa phân bố bất thường hoặc hạn kéo dài, do đó sản phẩm cần tiếp tục được hoàn thiện… Ông Mạnh cũng đề xuất, việc nghiên cứu cơ chế Nhà nước tham gia mua bảo hiểm cho người dân thay vì chỉ hỗ trợ khôi phục sản xuất sau thiên tai, qua đó rút ngắn thời gian hỗ trợ khi rủi ro xảy ra.
Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn thì cho rằng, bảo hiểm nông nghiệp cần được nhìn nhận là công cụ quản trị rủi ro, không phải cơ chế để người dân chờ hỗ trợ sau thiên tai. Hiện cây cà phê đang được đưa vào danh mục được hỗ trợ bảo hiểm trong thời gian tới… Chính vì vậy, việc cần gắn bảo hiểm với chuỗi giá trị, phát huy vai trò hợp tác xã trong tổ chức tham gia cho thành viên, đồng thời nghiên cứu kết nối với tín dụng xanh và các tổ chức tín dụng, bà Yến nhấn mạnh.
Cũng tại sự kiện HWG này, bà Trần Thị Thanh Nhàn, Trưởng khoa thuộc Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường thì nhấn mạnh việc tiếp tục hoàn thiện bằng chứng nghiên cứu và cơ chế hỗ trợ; ông Bạch Thanh Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam tập trung vào nhu cầu bảo vệ sản xuất, thu nhập nông dân và sự ổn định nguồn nguyên liệu; ông Phạm Thành Nam, Quản lý dự án SNV thì chia sẻ kinh nghiệm triển khai các chương trình phát triển và kết nối cộng đồng sản xuất...
Theo định hướng thời gian tới, 4 cuộc họp HWG được tổ chức từ tháng 9 đến tháng 12/2026, lần lượt tập trung vào bằng chứng và nhu cầu ưu tiên; phương án cung cấp, mở rộng và tài chính; tính khả thi và vai trò các bên; cuối cùng là tổng hợp đồng thuận và định hướng giai đoạn tiếp theo…
Thông điệp xuyên suốt của Dự án là bảo hiểm không thay thế CSA mà bổ trợ cho nhau… Giống chống chịu, quản lý nước, nông lâm kết hợp và bảo tồn đất, nước giúp giảm rủi ro từ đầu; bảo hiểm xử lý phần rủi ro còn lại.
Để WII chuyển từ thí điểm sang thị trường bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện dữ liệu, sản phẩm, quy trình vận hành, cơ chế tài chính và tái bảo hiểm, đồng thời tăng cường phối hợp công - tư… Dịch vụ khí hậu cần được cung cấp sát với nhu cầu sản xuất, theo cấp xã và từng giai đoạn sinh trưởng, qua các kênh quen thuộc như Zalo, SMS.
Khi CSA, bảo hiểm, dịch vụ khí hậu, tín dụng xanh và chính sách hỗ trợ… được triển khai đồng bộ, ngành Cà phê không chỉ giảm thiệt hại trước biến đổi khí hậu, mà còn có thêm nền tảng để bảo vệ sinh kế nông dân, ổn định vùng nguyên liệu và nâng cao giá trị chuỗi cà phê Việt Nam.