Mùa mưa bão luôn đặt các vùng nuôi thủy sản, đặc biệt là nuôi cá lồng bè trên sông, hồ, trước nhiều rủi ro. Khi mực nước và dòng chảy biến động nhanh, lồng nuôi có thể bị hư hỏng, đứt dây neo, trôi lồng, gây thất thoát thủy sản và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường trao đổi với ông Nguyễn Hữu Vinh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị về các giải pháp bảo đảm an toàn cho lồng bè thủy sản, giảm thiểu thiệt hại và chủ động thích ứng với thiên tai...
PV: Thưa ông, trong bối cảnh mùa mưa bão đang đến gần, đâu là những nguy cơ lớn nhất đối với các cơ sở nuôi thủy sản bằng lồng bè và yêu cầu đặt ra đối với người nuôi hiện nay là gì?
Ông Nguyễn Hữu Vinh: Nuôi thủy sản bằng lồng bè có đặc thù là phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện tự nhiên, đặc biệt là mực nước, dòng chảy và chất lượng môi trường nước. Trong điều kiện thời tiết bình thường, đây là lợi thế để tổ chức sản xuất, nhưng khi xuất hiện mưa lớn, bão, lũ thì những yếu tố này có thể biến động rất nhanh.
Mực nước dâng cao, dòng chảy mạnh hoặc thay đổi hướng có thể tạo áp lực lớn lên hệ thống lồng. Nếu kết cấu lồng không bảo đảm, phao xuống cấp, dây neo không đủ chắc hoặc vị trí đặt lồng không phù hợp, nguy cơ hư hỏng, trôi lồng, thất thoát thủy sản là rất lớn. Không chỉ vậy, sau mưa lũ, môi trường nước có nhiều biến động, làm thủy sản bị sốc, giảm sức đề kháng, phát sinh dịch bệnh hoặc chết hàng loạt nếu người nuôi không có biện pháp xử lý kịp thời.
Do đó, yêu cầu quan trọng nhất hiện nay là phải chủ động từ sớm. Người nuôi không nên đợi đến khi có bão hoặc nước lũ lên mới kiểm tra, gia cố lồng bè. Cần thường xuyên theo dõi dự báo thời tiết, rà soát toàn bộ hệ thống lồng, phao, dây neo, khung lồng, các điểm liên kết và vị trí đặt lồng. Những điểm có nguy cơ mất an toàn phải được xử lý trước khi thời tiết diễn biến xấu.
Bên cạnh đó, người nuôi cần chuẩn bị đầy đủ vật tư, phương tiện, nhiên liệu và nhân lực cần thiết để có thể triển khai phương án ứng phó khi có tình huống xảy ra. Sự chủ động này có ý nghĩa rất lớn, bởi khi thiên tai đã xảy ra thì thời gian và điều kiện để xử lý sẽ bị hạn chế đáng kể.
PV: Đối với những lồng bè nằm ở khu vực có nguy cơ chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, lũ, ngành nông nghiệp có khuyến cáo như thế nào về việc di chuyển và gia cố lồng bè, thưa ông?
Ông Nguyễn Hữu Vinh: Trước hết, các địa phương cần rà soát, xác định những vùng nuôi có nguy cơ cao để có phương án hướng dẫn người dân cụ thể. Không phải tất cả các khu vực nuôi lồng bè đều có mức độ rủi ro giống nhau. Có nơi chịu tác động trực tiếp của dòng chảy, có nơi nằm ở vùng thấp, có nơi lại có nguy cơ sạt lở hoặc bị ảnh hưởng khi mực nước thay đổi nhanh. Vì vậy, phương án bảo vệ cũng phải phù hợp với điều kiện thực tế từng khu vực.
Đối với những lồng bè nằm ở vị trí có nguy cơ chịu tác động trực tiếp của bão, lũ, trước hết phải kiểm tra và gia cố hệ thống neo giữ, phao, khung lồng, dây neo và những điểm liên kết. Nếu cần thiết và có điều kiện, người nuôi phải chủ động di chuyển lồng bè đến khu vực an toàn hơn theo hướng dẫn của cơ quan chức năng.
Điều chúng tôi đặc biệt lưu ý là việc di chuyển phải được thực hiện trước khi thời tiết xấu. Khi gió mạnh, mưa lớn, nước dâng cao và dòng chảy thay đổi, việc đưa người ra sông, hồ để gia cố hoặc di chuyển lồng bè sẽ tiềm ẩn nguy hiểm rất lớn.
Vì vậy, phương châm là phải “đi trước một bước”. Khi có thông tin dự báo về mưa lớn, bão hoặc lũ có khả năng ảnh hưởng đến khu vực nuôi, người dân cần chủ động triển khai ngay các phương án đã chuẩn bị. Trong mọi tình huống, an toàn tính mạng của người dân phải được đặt lên hàng đầu, tuyệt đối không vì cố bảo vệ tài sản mà để người nuôi đối mặt với nguy hiểm.
PV: Với những đối tượng nuôi dài ngày, chẳng hạn cá chình phải mất từ 1,5 - 2 năm mới có thể thu hoạch, người dân rất khó tránh hoàn toàn một mùa mưa lũ. Theo ông, cần có giải pháp như thế nào để giảm rủi ro đối với những lồng nuôi này?
Ông Nguyễn Hữu Vinh: Đúng là với những đối tượng nuôi dài ngày, việc tránh hoàn toàn mùa mưa lũ là gần như không thể. Do đó, giải pháp phải được tính ngay từ đầu chu kỳ nuôi chứ không chỉ khi có thiên tai.
Trước hết là lựa chọn vị trí đặt lồng. Đây là yếu tố rất quan trọng. Người dân cần căn cứ điều kiện dòng chảy, mực nước, khả năng biến động của thủy vực để lựa chọn vị trí phù hợp. Tiếp đó là thiết kế lồng phải bảo đảm độ chắc chắn, phù hợp với điều kiện thực tế. Hệ thống phao, dây neo, khung lồng và các điểm liên kết cần được kiểm tra thường xuyên trong suốt quá trình nuôi.
Đối với cá chình hoặc các đối tượng có thời gian nuôi dài, người dân càng phải có phương án quản lý rủi ro theo từng giai đoạn. Khi có dự báo mưa bão, cần rà soát lại toàn bộ hệ thống, tăng cường neo giữ và chuẩn bị phương án di chuyển nếu khu vực nuôi nằm trong vùng nguy hiểm.
Mặt khác, nếu thủy sản đã đạt kích cỡ thương phẩm thì cần cân nhắc thu hoạch sớm. Không nên vì muốn tăng thêm một phần trọng lượng mà tiếp tục kéo dài thời gian nuôi trong điều kiện nguy cơ thiên tai cao. Đối với những lồng chưa thể thu hoạch, phương án bảo vệ phải được chuẩn bị cụ thể, trong đó tính đến cả trường hợp nước dâng, dòng chảy mạnh hoặc lồng phải di chuyển đến vị trí khác.
Về lâu dài, chúng tôi cũng khuyến khích người dân cải tiến lồng nuôi, lựa chọn vật liệu và kết cấu phù hợp, nâng khả năng chống chịu trước các biến động của thời tiết. Phát triển nuôi lồng bè phải gắn với khả năng thích ứng, chứ không chỉ tính toán hiệu quả trong điều kiện thời tiết bình thường.
PV: Ngoài nguy cơ trôi, hư hỏng lồng bè và thất thoát thủy sản, sau mưa bão môi trường nước thường có nhiều biến động. Người nuôi cần đặc biệt lưu ý những vấn đề gì trong giai đoạn này để hạn chế thủy sản chết và phát sinh dịch bệnh?
Ông Nguyễn Hữu Vinh: Sau mưa bão là giai đoạn rất quan trọng, bởi lúc này người nuôi thường muốn nhanh chóng khôi phục sản xuất nhưng môi trường nước có thể chưa ổn định.
Ngay khi thời tiết an toàn, người nuôi cần kiểm tra lại toàn bộ hệ thống lồng bè, mức độ hư hỏng, tình trạng sức khỏe đàn thủy sản và chất lượng nước. Nếu phát hiện lồng bị hư hỏng phải có phương án khắc phục, tránh để thủy sản tiếp tục thất thoát. Đối với thủy sản chết, cần thu gom và xử lý đúng quy định, không để xác thủy sản phân hủy ngay trong khu vực nuôi gây ô nhiễm và làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh.
Một vấn đề nữa là không nên vội cho thủy sản ăn trở lại với lượng lớn ngay sau mưa bão. Khi môi trường nước chưa ổn định, sức khỏe thủy sản còn yếu, việc cho ăn quá mức có thể làm tăng chất hữu cơ và khiến chất lượng nước xấu hơn. Người nuôi cần theo dõi khả năng bắt mồi, hoạt động và biểu hiện sức khỏe của đàn nuôi để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp.
Nếu phát hiện thủy sản có dấu hiệu bất thường, chết tăng cao hoặc môi trường nước có vấn đề, cần báo ngay cho cơ quan chuyên môn để được kiểm tra, hướng dẫn. Việc xử lý sớm sẽ giúp hạn chế thiệt hại và ngăn nguy cơ dịch bệnh lan rộng.
PV: Trong nuôi trồng thủy sản, an toàn vùng nuôi, nhất là an toàn đối với lồng bè, có ý nghĩa trực tiếp như thế nào đối với việc hoàn thành kế hoạch sản lượng năm 2026? Ngành sẽ làm gì để vừa bảo đảm an toàn cho người nuôi, vừa hạn chế thiệt hại và duy trì sản xuất ổn định?
Ông Nguyễn Hữu Vinh: Với khoảng 5.058 tấn sản lượng còn phải thực hiện trong những tháng cuối năm, việc bảo vệ an toàn diện tích và đàn thủy sản đang nuôi có ý nghĩa rất quan trọng. Đây cũng là thời điểm thường xuất hiện mưa lớn, bão, lũ nên nguy cơ thiệt hại đối với các vùng nuôi là khá lớn.
Tuy nhiên, chúng tôi xác định việc hoàn thành kế hoạch sản xuất phải đi cùng với bảo đảm an toàn cho người dân và giảm thiểu thiệt hại. Không nên vì mục tiêu sản lượng mà để người dân tiếp tục duy trì đàn nuôi trong điều kiện rủi ro quá cao.
Đối với những diện tích đã đến thời điểm thu hoạch, cần chủ động thu hoạch “cuốn chiếu”, giảm lượng thủy sản phải bảo vệ trong thời gian mưa bão. Với những vùng có nguy cơ ngập sâu, vỡ bờ, dòng chảy lớn hoặc chịu tác động trực tiếp của lũ, cần cân nhắc thu hoạch sớm ngay cả khi thủy sản chưa đạt kích cỡ tối ưu nếu nguy cơ thiệt hại lớn hơn lợi ích kinh tế từ việc tiếp tục nuôi.
Đối với diện tích chưa thể thu hoạch, cần tập trung gia cố công trình, bảo đảm an toàn lồng bè, kiểm tra hệ thống cấp thoát nước và chuẩn bị phương án ứng phó. Ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương hướng dẫn người dân theo dõi diễn biến thời tiết, tổ chức sản xuất phù hợp và khôi phục sản xuất sau thiên tai.
Mục tiêu cuối cùng là giảm thấp nhất thiệt hại, bảo vệ thành quả sản xuất, giữ thu nhập cho người dân và từng bước nâng cao khả năng thích ứng của ngành thủy sản trước thiên tai.
Hiện nay, toàn tỉnh Quảng Trị có khoảng 3.558 lồng nuôi thủy sản, trong đó có 3.348 lồng nuôi trên sông, 190 lồng trên hồ chứa và 20 lồng nuôi trên biển. Như vậy, cơ cấu nuôi lồng bè của tỉnh hiện nay vẫn tập trung chủ yếu trên sông, chiếm khoảng 94% tổng số lồng nuôi, nơi tiềm ẩn rất nhiều rủi ro khi mùa mưa, bão, lũ về.
Theo thống kê, đến tháng 9/2026, toàn tỉnh có trên 9.599ha nuôi trồng thủy sản, sản lượng gần 17.742 tấn, đạt khoảng 77,8% kế hoạch. Để hoàn thành mục tiêu 22.800 tấn, những tháng cuối năm còn khoảng 5.058 tấn.
PV: Thực tế cho thấy, một số thiệt hại đối với lồng bè có thể xuất phát từ việc người nuôi chưa đánh giá đầy đủ mức độ nguy hiểm của dòng chảy, lựa chọn vị trí đặt lồng chưa phù hợp hoặc còn bị động khi bão, lũ đến. Sở Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp với các địa phương như thế nào để nâng cao tính chủ động của người nuôi?
Ông Nguyễn Hữu Vinh: Chúng tôi đề nghị các địa phương rà soát, xác định những khu vực có nguy cơ cao, hướng dẫn người dân lựa chọn vị trí đặt lồng phù hợp, kiểm tra hệ thống neo giữ và xây dựng phương án ứng phó cụ thể. Công tác tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật cần được thực hiện thường xuyên, nhưng quan trọng là phải sát với điều kiện thực tế của từng vùng nuôi.
Thông tin dự báo thời tiết và cảnh báo thiên tai cũng phải được truyền đến người nuôi sớm, rõ ràng, dễ tiếp cận để họ có đủ thời gian chuẩn bị. Nếu thông tin đến quá muộn thì người dân sẽ không còn nhiều lựa chọn ngoài việc ứng phó trong điều kiện bất lợi.
Bên cạnh trách nhiệm của cơ quan quản lý, người nuôi cũng phải chủ động hơn, không thể chỉ trông chờ vào lực lượng chức năng khi thiên tai xảy ra. Mỗi hộ nuôi cần có phương án riêng cho lồng bè, biết trước vị trí nào có thể di chuyển đến, vật tư nào cần chuẩn bị, ai chịu trách nhiệm xử lý khi có tình huống và khi nào phải dừng các hoạt động trên sông, hồ vì lý do an toàn.
Chúng tôi đặc biệt lưu ý người dân không chủ quan, không tổ chức kiểm tra, gia cố hoặc di chuyển lồng bè trong điều kiện mưa bão nguy hiểm. Bảo vệ tài sản là cần thiết nhưng không thể đánh đổi bằng sự an toàn của con người.
PV: Từ thực tế các mùa mưa lũ gần đây, theo ông, việc phát triển nuôi thủy sản bằng lồng bè trong thời gian tới cần được điều chỉnh như thế nào để vừa nâng cao hiệu quả kinh tế, vừa thích ứng tốt hơn với thiên tai?
Ông Nguyễn Hữu Vinh: Điều này xuất phát từ thực tế các vùng nuôi trên sông thường nằm gần nhà của người dân, thuận tiện cho việc chăm sóc, quản lý. Tuy nhiên, đây cũng là một vấn đề cần được nhìn nhận trong bối cảnh thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp. Khi mưa lớn, lũ lên nhanh, dòng chảy mạnh hoặc xuất hiện lũ quét, lồng nuôi trên sông có thể chịu tác động trực tiếp; nguy cơ lồng bị cuốn trôi, hư hỏng hoặc thủy sản thoát ra ngoài là khá cao. Vì vậy, thuận lợi cho sản xuất trong điều kiện bình thường nhưng mức độ rủi ro cao khi xảy ra thiên tai.
Từ thực tế đó, ngành thủy sản đang định hướng từng bước chuyển dịch cơ cấu không gian nuôi lồng bè, giảm dần sự phụ thuộc quá lớn vào các khu vực sông có nguy cơ cao và nghiên cứu phát triển phù hợp hơn trên các hồ chứa có điều kiện thuận lợi. Hồ chứa thường có mặt nước tương đối ổn định và trong một số trường hợp khi có diễn biến thời tiết bất lợi có thể chủ động di chuyển, bố trí lồng đến những khu vực kín gió, dòng chảy thấp. Đây là một hướng để giảm mức độ thiệt hại cho người nuôi đặc biệt là các đối tượng nuôi dài ngày.
Tuy nhiên, chuyển dịch lên hồ chứa không có nghĩa là phát triển nuôi lồng một cách tự phát, ồ ạt. Mỗi hồ phải được đánh giá cụ thể về sức tải môi trường, mực nước, chất lượng nguồn nước, dòng chảy, khả năng bố trí lồng và mức độ phù hợp với từng đối tượng nuôi; chỉ phát triển trong phạm vi bảo đảm an toàn và hiệu quả.
Định hướng thứ hai là từng bước chuyển đổi từ lồng bè gỗ truyền thống sang các loại lồng có độ bền và khả năng chống chịu tốt hơn, trong đó ưu tiên nghiên cứu, khuyến khích sử dụng lồng nhựa HDPE phù hợp với điều kiện nuôi của từng vùng. So với lồng truyền thống, hệ thống lồng HDPE có khả năng chịu va đập, sóng gió và biến động môi trường tốt hơn, đồng thời có tuổi thọ cao hơn nếu được thiết kế, lắp đặt và neo giữ đúng yêu cầu kỹ thuật. Đây là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống nuôi.
Về lâu dài, tỉnh sẽ không đặt mục tiêu đơn thuần là tăng số lượng lồng mà hướng tới cơ cấu lại cả không gian và công nghệ nuôi: từ những khu vực có rủi ro cao sang những vùng có điều kiện tự nhiên phù hợp hơn, từ lồng truyền thống sang công nghệ lồng có khả năng chống chịu tốt hơn, đồng thời tăng cường cảnh báo thiên tai và hướng dẫn người dân chủ động ứng phó.
Mục tiêu cuối cùng là xây dựng nghề nuôi lồng bè theo hướng hiệu quả kinh tế nhưng phải an toàn, thích ứng với thiên tai và phù hợp với sức chịu tải của từng thủy vực. Đây cũng là cơ sở để nghề nuôi lồng bè của Quảng Trị phát triển ổn định và bền vững hơn trong thời gian tới.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!