Ra biển bằng “đôi chân” thể chế và công nghệ

Ra biển bằng “đôi chân” thể chế và công nghệ

Chủ nhật, 2/8/2026, 08:05 (GMT+7)
logo Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá từ biển. Nhưng con đường trở thành quốc gia biển mạnh không được quyết định bởi lợi thế tự nhiên, mà bởi năng lực quản trị, chất lượng thể chế và khả năng làm chủ khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên kinh tế biển xanh.
666317439_122307254672203427_8056119582447474866_n_1785381252.jpg
"Lợi thế tự nhiên chỉ là điều kiện cần; vị thế quốc gia biển được quyết định bởi chất lượng thể chế và năng lực làm chủ khoa học - công nghệ." - PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi cho biết.

Việt Nam đứng trước thời cơ mới để trở thành quốc gia biển mạnh

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đã tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW (2018) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam và ban hành Nghị quyết về Xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Đây không chỉ là sự kế thừa một chiến lược lớn của Đảng, mà còn mở ra giai đoạn phát triển mới, trong đó biển được xác định là không gian phát triển chiến lược, gắn với tăng trưởng kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia. Muốn hiện thực hóa mục tiêu đó, Việt Nam phải chuyển mạnh từ tư duy khai thác tài nguyên đơn thuần sang tư duy quản trị biển hiện đại, lấy thể chế, khoa học và công nghệ làm động lực phát triển bứt phá.

Việt Nam có lợi thế nổi trội để phát triển kinh tế biển với vùng biển rộng gấp khoảng ba lần diện tích lãnh thổ đất liền, hơn 3.260 km bờ biển và hơn 3.000 đảo lớn nhỏ. Cùng với vị trí nằm trên tuyến hàng hải quốc tế quan trọng của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, biển Việt Nam vừa là không gian sinh tồn, vừa là cửa ngõ kết nối với các chuỗi cung ứng và dòng chảy thương mại toàn cầu. Đây là nền tảng để phát triển các ngành kinh tế biển, như: cảng biển, logistics, du lịch, thủy sản, năng lượng biển tái tạo, năng lượng gió biển, nhất là năng lượng gió ngoài khơi và các ngành kinh tế biển xanh mới khác.

Thời cơ ấy càng trở nên rõ nét hơn sau khi thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính ba cấp, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Hiện cả nước có 21/34 (trước đây 28/63) tỉnh, thành phố có biển, tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển, tăng cường liên thông tự nhiên và liên kết vùng giữa miền núi, trung du với vùng ven biển, giữa nguồn nguyên liệu với cảng biển, logistics và các trung tâm kinh tế biển. Đây không đơn thuần là thay đổi địa giới hành chính mà là bước chuẩn bị quan trọng để hình thành các cực tăng trưởng mới, phát huy lợi thế liên kết "núi - rừng - biển", tạo cơ hội để quản trị phát triển không gian tạo động lực cho phát triển bứt phá nhanh và bền vững.

Tuy nhiên, lợi thế địa lý sẽ không tự chuyển hóa thành sức mạnh phát triển nếu thiếu một mô hình quản trị phù hợp. Thời cơ đang mở ra rất lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế và làm chủ khoa học - công nghệ để đưa Việt Nam thực sự vươn ra biển lớn, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI.

image_f489e737fa_1785381670.png
Theo Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đề xuất mô hình quản trị biển hiện đại, thống nhất, liên thông trên cơ sở dữ liệu và quy hoạch không gian biển quốc gia, bảo đảm quản lý tổng hợp mặt biển, đáy biển, lòng đất dưới biển, các đảo, vùng ven biển và vùng trời trên biển; gắn kết chặt chẽ giữa đất liền với biển, đảo, giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Đồng thời, các chương trình hành động phải được cụ thể hóa, có cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.

Những điểm nghẽn cần được tháo gỡ bằng tư duy quản trị mới

Nghị quyết số 36-NQ/TW đã tạo chuyển biến quan trọng trong nhận thức về phát triển bền vững kinh tế biển. Nhiều quy hoạch, chiến lược và chương trình hành động được ban hành; hạ tầng ven biển tiếp tục được đầu tư; phần lớn địa phương có biển đã xác định kinh tế biển là động lực tăng trưởng trong điều chỉnh quy hoạch sau hợp nhất tỉnh. Tuy nhiên, Trung ương cũng chỉ ra một thực tế cần nhìn nhận thẳng thắn, rằng những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng biển, đảo và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Mặc dù Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài với lợi thế “mặt tiền hướng biển”, vùng biển rộng với các tuyến, cụm và quần đảo quan trọng, lại nằm trên tuyến hàng hải quốc tế nhộn nhịp bậc nhất thế giới,… nhưng sức mạnh kinh tế biển vẫn chưa phản ánh đầy đủ những lợi thế đó. Không gian biển “đa tầng nấc” còn rất lớn, song năng lực khai thác, quản trị và các giá trị gia tăng được tạo ra từ biển vẫn còn khiêm tốn. Đây không phải là câu chuyện thiếu tài nguyên, mà trước hết là câu chuyện về tư duy và tầm nhìn phát triển và năng lực tổ chức thực hiện.

Điểm nghẽn đầu tiên là tư duy quản lý đơn ngành vẫn lấn át tư duy quản trị không gian biển.

Trong nhiều năm, khai thác, sử dụng, phát triển và quản lý biển được thực thi riêng rẽ theo từng ngành/lĩnh vực. Cảng-hàng hải có quy hoạch riêng; thủy sản có quy hoạch riêng; du lịch biển, dầu khí, năng lượng, bảo tồn thiên nhiên biển hay đô thị biển cũng được quản lý dựa theo luật pháp ngành và theo những phương thức khác nhau. Cách tiếp cận đó đáp ứng kịp nhu cầu trước mắt, nhưng không còn đáp ứng yêu cầu dài hạn của một nền kinh tế biển hiện đại, quy mô sản xuất hàng hoá, phát triển xanh và bền vững.

Vì biển là một không gian chỉnh thể, liên thông và thống nhất. Một vùng biển có thể đồng thời là tuyến hàng hải quốc tế, ngư trường khai thác, tiềm năng nuôi biển, vùng phát triển điện gió ngoài khơi, không gian bảo tồn đa dạng sinh học, dầu khí trong lòng dưới đáy biển và khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh,... Nếu thiếu một cơ chế điều phối tổng hợp, phối hợp liên ngành thì sự phát triển của ngành này hoàn toàn có thể triệt tiêu dư địa phát triển của ngành khác. Đây chính là nguyên nhân làm gia tăng các xung đột trong khai thác, sử dụng không gian biển mà chúng ta đang chứng kiến.

Điểm nghẽn thứ hai là thể chế chưa theo kịp sự phát triển của các ngành kinh tế biển mới.

Những năm gần đây, kinh tế biển Việt Nam đã xuất hiện nhiều lĩnh vực hoàn toàn mới như điện gió biển, nhất là điện gió ngoài khơi, carbon xanh, nuôi biển công nghệ cao, nhiên liệu sinh học biển, y-dược biển hay khai thác biển sâu. Tuy nhiên, khuôn khổ pháp lý hiện lại có liên quan lại như “cái áo chật”, chủ yếu được xây dựng phục vụ phát triển kinh tế ngành truyền thống như nói trên với các quy hoạch ngành riêng rẽ, không đủ khả năng huy động các nguồn lực cho nhu cầu phát triển toàn diện mới.

Trong thực tế, một số lĩnh vực kinh tế biển mới nổi có tiềm năng và thế mạnh vượt trội, có thể giúp Việt Nam bứt phá như nói trên, nhưng để hiện thực hoá thì vẫn còn khoảng cách rất lớn do vướng mắc về phương cách giao khu vực biển; khả năng triển khai thực hiện quy hoạch không gian biển quốc gia ở quy mô ngành và địa phương sau hợp nhất; quản trị phát triển biển theo không gian cũng chưa hình thành nên nguồn lực và các giá trị biển đem lại có thể tiếp tục bị chia cắt, phân mảnh. Điều đó cho thấy, nếu thể chế và quy hoạch không gian biển không đi trước một bước so với hành động phát triển (đầu tư, sản xuất) và không chuẩn xác thì chính chúng sẽ trở thành "điểm nghẽn" của phát triển.

Điểm nghẽn thứ ba là thiếu nền tảng dữ liệu biển đủ mạnh cho quản trị hiện đại.

Quản trị biển trong thế kỷ XXI không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm hay các cuộc khảo sát rời rạc, thiếu tính hệ thống và định kỳ.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến năm 2025, diện tích vùng biển được điều tra cơ bản mới đạt khoảng 38,7%, tăng đáng kể so với mức 24,5% năm 2020, nhưng vẫn còn hơn một nửa không gian biển chưa được điều tra ở mức độ chi tiết phục vụ quy hoạch và khai thác bền vững. Trong khi đó, xu hướng quản trị biển trên thế giới đang chuyển rất nhanh sang sử dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), viễn thám, cảm biến biển và các mô hình "song sinh số" để giám sát tài nguyên, dự báo môi trường, quản lý giao thông hàng hải và tối ưu hóa khai thác không gian biển ba chiều. Khoảng cách công nghệ này nếu không được thu hẹp sẽ trở thành rào cản lớn đối với mục tiêu làm chủ biển xa và biển sâu, làm chủ không gian ngầm dưới biển.

Điểm nghẽn thứ tư là phát triển kinh tế biển xanh vẫn chưa đi cùng bảo tồn vốn tự nhiên.

Thế giới đang coi hệ sinh thái biển là nguồn vốn tự nhiên tạo ra các giá trị lâu dài và bền vững. Trong khi đó, đến nay Việt Nam mới đưa vào hoạt động khoảng 10/16 khu bảo tồn biển đã được Chính phủ thiết lập (từ 2010) và hiệu quả quản lý đạt mức thấp; diện tích biển được bảo vệ vẫn còn thấp so với mục tiêu phát triển bền vững biển quốc gia. Các hệ sinh thái biển-ven biển tiêu biểu như rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn tiếp tục chịu áp lực từ phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta đang tiêu dùng nhiều hơn là tái tạo nguồn lợi biển, nguồn sinh kế bền vững cho người dân. Muốn phát triển bền vững biển đảo, bảo tồn không thể đứng ngoài phát triển, mà phải trở thành một hợp phần không thể thiếu trong kinh tế biển xanh và bền vững. Thậm chí, phát triển kinh tế bảo tồn (Conservation-based economy) đang trở thành xu thế toàn cầu, trực tiếp tạo sinh kế, tạo việc làm cho cộng đồng ven biển. tạo lợi ích kép cho du lịch sinh thái biển và tạo giá trị gia tăng cho thị phần xuất khẩu thuỷ sản của đất nước.

Điểm nghẽn cuối cùng là chúng ta vẫn chưa thật sự ra biển bằng khoa học và công nghệ.

Các ngành kinh tế biển, nhất là các ngành kinh tế biển mới đều có điểm chung là đòi hỏi vốn và xuất đầu tư lớn, công nghệ cao và nguồn nhân lực chất lượng cao. Khai thác biển sâu, biển xa, điện gió ngoài khơi, logistics biển hay công nghệ sinh học biển,… đều không thể phát triển bằng các phương thức/phương tiện sản xuất truyền thống, cũ kỹ và lạc hậu.

Đó cũng là lý do chỉ ra rằng, bước đột phá quan trọng nhất trong giai đoạn tới không nằm ở việc khai thác thêm bao nhiêu tài nguyên, mà ở việc chuyển từ tư duy khai thác sang tư duy quản trị tổng hợp không gian biển; từ phát triển theo ngành sang phát triển gắn với quản trị không gian biển dựa vào hệ sinh thái và cơ chế phối hợp liên ngành; từ dựa vào khai thác tài nguyên vật chất sang dựa vào thể chế, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Chỉ khi tháo gỡ đồng thời những "điểm nghẽn" nói trên, Việt Nam mới có thể biến lợi thế địa lý thành thế và lực cho phát triển và bảo vệ chủ quyền biển đảo, biến tiềm năng biển thành sức mạnh quốc gia và tạo nền tảng vững chắc để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI.

anh-2_1785382198.png

Ra biển bằng "đôi chân thể chế và công nghệ" để tạo đột phá chiến lược

Nếu phần trước chỉ ra những "điểm nghẽn" đang cản trở sự phát triển của kinh tế biển, thì yêu cầu đặt ra hiện nay là nhận diện đúng đường hướng phát triển và mô hình quản trị biển mới, cũng như xác định giải pháp cụ thể để tháo gỡ. Trong bối cảnh mới, như nói trên, Việt Nam không thể tiếp tục phát triển kinh tế biển bằng tư duy khai thác truyền thống hay chỉ dựa vào lợi thế tài nguyên biển sẵn có. Muốn hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI, chúng ta phải tạo dựng một mô hình phát triển mới, trong đó thể chế hiện đại và khoa học - công nghệ tiên tiến chính là hai trụ cột tạo nên bước đột phá chiến lược. Đây cũng là cụm từ cốt lõi mà tôi đã nhấn mạnh trong một bài phát biểu, rằng: Việt Nam phải ra biển bằng "đôi chân thể chế và công nghệ".

Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia biển cho thấy, lợi thế tự nhiên chỉ là điều kiện cần, yếu tố quyết định vị thế quốc gia biển lại nằm ở năng lực quản trị và trình độ công nghệ. Hà Lan có diện tích biển không lớn nhưng là cường quốc cảng và logistics biển; Na Uy xây dựng nền kinh tế biển dựa trên công nghệ khai thác dầu khí, nuôi biển và năng lượng ngoài khơi; Singapore gần như không có tài nguyên biển đáng kể nhưng trở thành trung tâm hàng hải và dịch vụ biển hàng đầu thế giới nhờ thể chế thông thoáng và năng lực quản trị hiện đại, v.v.. Những kinh nghiệm đó cho thấy, trong kỷ nguyên kinh tế biển xanh, lợi thế cạnh tranh không còn được đo bằng chiều dài bờ biển hay trữ lượng tài nguyên, mà bằng chất lượng thể chế và khả năng làm chủ khoa học, công nghệ.

Đối với Việt Nam, yêu cầu trước tiên là tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển biển theo hướng đồng bộ, thống nhất và kiến tạo. Trước hết, cần đẩy nhanh việc sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm tạo hành lang pháp lý minh bạch cho các ngành kinh tế biển mới, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, khai thác năng lượng tái tạo, carbon xanh và kinh tế bảo tồn. Thể chế không chỉ có chức năng quản lý mà phải trở thành động lực phát triển, khuyến khích đổi mới sáng tạo, thu hút các nhà đầu tư chiến lược và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng cư dân biển đảo trong phát triển và quản trị không gian biển.

Sau đó, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, đảo Việt Nam để hỗ trợ chuyển mạnh từ phương thức quản lý biển theo ngành sang quản trị tổng hợp và thống nhất không gian biển. Đây là sự thay đổi về tư duy chứ không chỉ là thay đổi về công cụ quản lý, thậm chí là một triết lý phát triển biển đảo mới. Mọi hoạt động kinh tế phải được đặt trong cùng một không gian phát triển, trong mối quan hệ liên ngành, được phân vùng chức năng rõ ràng, có cơ chế điều phối liên ngành và đánh giá tác động tổng hợp ngay từ khâu quy hoạch không gian biển. Khi đó, một vùng biển không còn chỉ phục vụ một mục tiêu/ngành riêng lẻ mà đồng thời phát triển đa ngành/đa mục tiêu (Multi-use), ví dụ như: năng lượng tái tạo, nuôi biển, du lịch sinh thái, cảng-hàng hải, y-dược biển và bảo tồn thiên nhiên biển,… trên cơ sở hài hoà và tối ưu hóa lợi ích tổng thể của các ngành. Đó cũng là tinh thần cơ bản về quản trị tổng hợp không gian biển mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: phát triển nhanh kinh tế biển nhưng phải dựa trên quản trị tổng hợp, liên ngành, liên thông và gắn kết để duy trì tính bền vững của biển.

Song song với thể chế, khoa học, công nghệ phải trở thành trụ đỡ cho mọi hoạt động khai thác, sử dụng và quản lý biển. Biển xa, biển sâu là không gian phát triển mới của Việt Nam, nhưng cũng là nơi đòi hỏi trình độ khoa học, khả năng can thiệp của công nghệ và suất đầu tư rất cao. Không thể quản lý hiệu quả vùng biển rộng hơn một triệu kilômét vuông bằng những phương thức và cách tổ chức ra biển thiếu gắn kết, thiếu liên thông và không phối hợp để vượt qua những rủi ro thiên tai và nhân tai trên biển. Chúng ta cần đầu tư mạnh và cơ cấu lại công tác điều tra cơ bản biển; xây dựng và quản lý thống nhất, hiệu quả cơ sở dữ liệu biển quốc gia; phát triển hệ thống quan trắc biển tự động. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), công nghệ viễn thám và mô hình số để giám sát tài nguyên, môi trường, dự báo thiên tai, quản lý tàu thuyền và hỗ trợ ra quyết định. Chính phủ đã xác định chuyển đổi số là một trong những động lực nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tài nguyên, môi trường và phát triển kinh tế biển trong giai đoạn tới.

Đầu tư cho công nghệ không chỉ nhằm khai thác tài nguyên hiệu quả hơn mà còn để bảo vệ vốn tự nhiên của biển. Công nghệ sẽ giúp theo dõi diễn biến các hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn; giám sát ô nhiễm và rác thải nhựa đại dương; tối ưu hóa hoạt động nuôi biển; giảm phát thải trong vận tải biển; nâng cao khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Đây là điều kiện để Việt Nam chuyển từ mô hình "kinh tế biển nâu" sang "kinh tế biển xanh", trong đó tăng trưởng kinh tế gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững tài nguyên biển-ven biển.

Một trụ cột khác cần được quan tâm là phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao. Không thể xây dựng quốc gia biển mạnh nếu thiếu đội ngũ chuyên gia về công nghệ biển, hải dương học, quy hoạch không gian biển, năng lượng ngoài khơi, luật biển quốc tế, kinh tế biển và quản trị đại dương. Cùng với đó là việc hình thành các Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng công nghệ biển hiện đại, tăng cường hợp tác quốc tế, thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp để nhanh chóng chuyển giao các thành tựu khoa học vào thực tiễn sản xuất và quản lý gắn với đào tạo kỹ năng cho nguồn nhân lực biển.

Trong bối cảnh tổ chức lại không gian phát triển sau sáp nhập đơn vị hành chính, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng địa giới của các tỉnh, thành phố có biển mà phải biến sự thay đổi đó thành lợi thế phát triển thực sự. Các địa phương cần xây dựng quy hoạch tích hợp trên nền tảng liên kết "núi - rừng - biển", hình thành các hành lang logistics, trung tâm cảng biển, khu công nghiệp xanh, đô thị biển và chuỗi giá trị kinh tế biển gắn với lợi thế vùng miền. Chỉ khi phát huy được sức mạnh tổng hợp của không gian lãnh thổ mới, chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính mới thực sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế biển trong dài hạn.

Phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới vì thế không chỉ là câu chuyện khai thác thêm một nguồn tài nguyên hay mở rộng thêm một ngành kinh tế. Đó là quá trình kiến tạo mô hình kinh tế mới gắn với triết lý phát triển không gian biển mới, trong đó biển được quản trị như một không gian thống nhất, liên thông giữa kinh tế và an ninh, chủ quyền; thể chế trở thành động lực của đổi mới công nghệ và phát triển; khoa học và công nghệ trở thành nền tảng của tăng trưởng; con người là trung tâm của mọi chính sách; còn bảo tồn thiên nhiên được xem là đầu tư cho tương lai bền vững. Chỉ trên nền tảng đó, khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh mới có thể được hiện thực hóa bằng những bước đi vững chắc và bền vững.

 

PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam