Sở hữu hơn 130km bờ biển cùng hệ sinh thái biển đảo đa dạng, Quảng Ngãi đang đứng trước nhiều cơ hội để phát triển kinh tế biển theo hướng xanh và bền vững. Nhân Ngày Môi trường thế giới (5/6), Ngày Đại dương thế giới (8/6), Tháng hành động vì môi trường và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2026, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Hồ Trọng Phương, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi về công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và định hướng phát triển kinh tế biển trong thời gian tới.
PV: Thưa ông, ông có thể cho biết việc điều tra cơ bản tài nguyên biển và hải đảo, xây dựng cơ sở dữ liệu biển của tỉnh Quảng Ngãi hiện được triển khai như thế nào? Số hóa dữ liệu biển sẽ mang lại lợi ích gì cho công tác quản lý, phát triển kinh tế biển bền vững?
Ông Hồ Trọng Phương: Công tác điều tra cơ bản và xây dựng cơ sở dữ liệu biển tại Quảng Ngãi là nền tảng cốt lõi để phát triển kinh tế biển bền vững. Thời gian qua, tỉnh triển khai các dự án, nhiệm vụ điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên, hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ. Hoạt động này cung cấp luận cứ khoa học để quy hoạch không gian biển và tích hợp các dữ liệu này vào hệ thống thông tin không gian (GIS) phục vụ công tác quy hoạch, quản lý, giảm thiểu rủi ro thiên tai và bảo vệ chủ quyền.
Dữ liệu điều tra sẽ được số hóa và tích hợp vào Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ngãi và hệ thống của Cục Quản lý điều tra cơ bản biển và hải đảo, tạo nền tảng tra cứu, chia sẻ thông tin đa ngành về môi trường, kinh tế - xã hội và quốc phòng.
Việc số hóa dữ liệu biển mang lại những lợi ích thiết thực cho tỉnh như sau:
PV: Trước thực trạng ô nhiễm môi trường biển ngày càng phức tạp, tỉnh Quảng Ngãi đang thực hiện những giải pháp gì trong công tác quan trắc, giám sát môi trường biển và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm từ đất liền cũng như hoạt động trên biển?
Ông Hồ Trọng Phương: Trước thực trạng ô nhiễm môi trường biển ngày càng phức tạp, tỉnh Quảng Ngãi đang triển khai nhiều giải pháp trong công tác quan trắc, giám sát môi trường biển nhằm tăng cường quản lý, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm từ đất liền cũng như hoạt động trên biển.
Hằng năm, Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi thực hiện chương trình quan trắc môi trường, trong đó có các điểm quan trắc nước biển ven bờ nhằm đánh giá hiện trạng và xu hướng chất lượng môi trường biển; từ đó kịp thời triển khai các biện pháp bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh.
Đặc biệt, để theo dõi, giám sát nước thải phát sinh từ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường biển, Sở Nông nghiệp và Môi trường đẩy mạnh thực hiện các giải pháp kiểm soát ô nhiễm tại nguồn, vận hành hiệu quả hệ thống tiếp nhận, quản lý dữ liệu quan trắc môi trường tự động, liên tục.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có 30 đơn vị, doanh nghiệp đã lắp đặt hoàn thành 34 trạm quan trắc nước thải tự động, liên tục; kết nối, truyền dữ liệu về Sở Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Môi trường để theo dõi, giám sát.
Để nâng cao hiệu quả giám sát công tác bảo vệ môi trường của doanh nghiệp thông qua hệ thống tiếp nhận dữ liệu này, Sở Nông nghiệp và Môi trường giao Chi cục Bảo vệ môi trường thường xuyên theo dõi, kiểm soát dữ liệu từ các doanh nghiệp có nguồn thải lớn truyền về để kịp thời liên lạc (thông qua điện thoại, tin nhắn) hoặc tham mưu văn bản yêu cầu, nhắc nhở doanh nghiệp khi phát hiện thông số vượt hoặc có nguy cơ vượt quy chuẩn môi trường, mất kết nối dữ liệu, lỗi thiết bị quan trắc...; đồng thời tổ chức niêm phong cổng kết nối dữ liệu các trạm quan trắc theo quy định.
Việc triển khai chương trình quan trắc môi trường biển hằng năm và vận hành hệ thống tiếp nhận, quản lý dữ liệu quan trắc môi trường tự động, liên tục thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc theo dõi, giám sát diễn biến chất lượng môi trường biển cũng như các nguồn có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường biển trên địa bàn tỉnh.
Trong thời gian tới, việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về môi trường sẽ là những yếu tố chiến lược, góp phần giúp Quảng Ngãi chủ động ứng phó với các thách thức môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
PV: Công tác quản lý nhận chìm ở biển hiện nay được thực hiện ra sao để vừa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm không ảnh hưởng đến môi trường, hệ sinh thái và sinh kế của ngư dân ven biển?
Ông Hồ Trọng Phương: Công tác quản lý nhận chìm ở biển được kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống quy định pháp luật như Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015; Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cùng các nghị định, thông tư, quyết định từ Trung ương đến địa phương. Quá trình này được thực hiện theo các nguyên tắc cốt lõi nhằm cân bằng giữa phát triển và bảo tồn, bảo vệ môi trường.
Chỉ những vật chất đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật (ví dụ vật chất nạo vét không chứa thành phần độc hại) mới được phép nhận chìm; phải có phương án giảm thiểu tác động, bảo đảm hoạt động nhận chìm không gây ô nhiễm môi trường biển, không ảnh hưởng đến hệ sinh thái và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội hợp pháp trong khu vực; đồng thời phải có chương trình giám sát môi trường và sinh học cụ thể.
Bên cạnh đó, các phương tiện còn được lắp đặt thiết bị ghi hình để ghi nhận toàn bộ quá trình từ khi tiếp nhận chất nạo vét, vận chuyển đến vị trí đổ và kết thúc đổ chất nạo vét nhằm kiểm soát việc đổ không đúng vị trí quy định. Doanh nghiệp có trách nhiệm lưu giữ và cung cấp đầy đủ dữ liệu hành trình, hình ảnh khi cơ quan chức năng hoặc đoàn kiểm tra yêu cầu.
Đối với chất lượng môi trường biển tại khu vực nạo vét và nhận chìm, doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện quan trắc và báo cáo kết quả định kỳ hằng tháng cho cơ quan chức năng theo dõi, giám sát từ khi bắt đầu thực hiện nhận chìm đến một tháng sau khi kết thúc hoạt động nhận chìm. Đồng thời, Sở Nông nghiệp và Môi trường thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra hoạt động nạo vét, nhận chìm của doanh nghiệp.
PV: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy giảm nguồn lợi thủy sản, tỉnh Quảng Ngãi có những định hướng, giải pháp gì nhằm bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái biển và quản lý khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển trong thời gian tới?
Ông Hồ Trọng Phương: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và nguồn lợi thủy sản có xu hướng suy giảm rõ rệt, đặc biệt tại vùng ven bờ, tỉnh Quảng Ngãi đã và đang triển khai đồng bộ nhiều định hướng chiến lược cùng các giải pháp cụ thể với mục tiêu phát triển nghề cá bền vững.
Thời gian qua, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn sự suy giảm nguồn lợi thủy sản. Hiện nay, Quảng Ngãi đã có 1 khu bảo tồn biển, 1 khu vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản, 2 khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn trên biển và 4 khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn trong vùng nội địa.
Tỉnh cũng đã thành lập 1 tổ đồng quản lý khu vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản Gành Yến và 3 tổ cộng đồng bảo vệ rong mơ tại xã Vạn Tường và Đông Sơn nhằm bảo vệ, duy trì, phục hồi hệ sinh thái và các giá trị tài nguyên trong khu vực bảo vệ; đồng thời huy động sự tham gia của cộng đồng trong công tác đồng quản lý, giám sát khai thác thủy sản gắn với phát triển du lịch sinh thái cộng đồng.
Bên cạnh đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng Đề án phát triển thủy sản bền vững tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2050 theo Công văn số 3136/UBND-NNMT ngày 14/4/2026 của UBND tỉnh; dự kiến hoàn thành vào tháng 12/2026.
Về giải pháp thời gian tới:
Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ để thiết lập thêm các khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, các vùng cấm khai thác thủy sản có thời hạn; thành lập các tổ cộng đồng quản lý và nghiên cứu mở rộng việc cấm khai thác thủy sản có thời hạn tại vùng biển ven bờ.
Tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác thả giống bổ sung, tái tạo nguồn lợi thủy sản tại các thủy vực tự nhiên trên địa bàn tỉnh; cắt giảm các tàu cá hoạt động nghề khai thác ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi thủy sản như lưới kéo, lưới rê thu ngừ (không mua bán, đóng mới, cải hoán); đồng thời ban hành chính sách chuyển đổi nghề sang các nghề thân thiện với môi trường hoặc chuyển sang các lĩnh vực sinh kế khác.
Giám sát chặt chẽ tàu cá. 100% tàu cá có chiều dài từ 15m trở lên phải lắp đặt và vận hành thiết bị giám sát hành trình (VMS). Đẩy mạnh ứng dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử (eCDT), nhật ký khai thác điện tử nhằm minh bạch hóa sản lượng và nguồn gốc thủy sản khai thác.
Thành lập lực lượng kiểm ngư; trước mắt tăng cường phối hợp liên ngành, phát huy hiệu quả quy chế phối hợp giữa Sở Nông nghiệp và Môi trường với Bộ đội Biên phòng trong kiểm soát dữ liệu tàu cá xuất, nhập bến và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Nâng cấp, xây dựng mới hạ tầng dịch vụ hậu cần nghề cá, đặc biệt là hệ thống cảng cá và khu neo đậu tránh trú bão nhằm bảo đảm an toàn cho ngư dân trước các hiện tượng thời tiết cực đoan.
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác dự báo ngư trường, thời tiết, giúp ngư dân tối ưu hóa lộ trình chuyến biển, tiết kiệm nhiên liệu và giảm thiểu rủi ro thiên tai.
PV: Trân trọng cảm ơn ông!